TRƯỜNG SA VÙNG BIỂN NHỚ

TRỊNH HOÀI PHƯƠNG


Để nhớ về Hạm trưởng, Hạm phó, quý chiến hữu thủy thủ đoàn Tuần dương hạm Trần Nhật Duật HQ 3 (WHEC).

Mỗi lần đi tầu du lịch (Cruise), tôi có cái thú buổi sáng ngồi uống cà phê, ngắm trời nước mênh mông. Nhìn những bọt nước trắng xóa để lại sau con tầu. Tôi chợt nhớ về những chiến hữu với bao kỷ niệm vui buồn, những nhọc nhằn của đời lính biển, những ngày xa gia đình. Bù lại, chúng tôi được chúng tôi tìm được niềm vui đơn sơ qua những chuyến hải hành quần đảo Trường Sa.
Sau biến cố Hoàng Sa rơi vào tay Trung cộng tháng 01 – 1974, vùng biển Trường Sa trở nên sôi động. Trước nguy cơ xâm lăng của kẻ thù, Việt Nam Cộng Hòa điều động thêm quân đội trấn giữ các đảo. Nhiều chiến hạm như Hải vận hạm (LSM), Dương vận hạm (LST), Tuần dương hạm (WHEC)… chở Địa phưong quân Phước Tuy (Bà Rịa), đặc biệt Tiểu đoàn Trinh sát Mãnh Sư 371, ra bảo vệ đảo và dựng bia chủ quyền quốc gia. Chiến hạm chúng tôi –Trần Nhật Duật HQ3- thuộc loại tầu chiến, không chở tiếp liệu và binh sĩ nhiều như như các tầu Hải và Dương vận hạm. Tuy nhiên, sự hiện diện của các chiến hạm có hỏa lực mạnh như Khu trục hạm, Tuần dương hạm chứng tỏ quyết tâm bảo vệ biển đảo của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa.

Ngoài những nguy hiểm bão tố hàng năm, hải hành trong vùng biển Trường Sa đòi hỏi sự thận trọng, vì có nhiều bãi đá ngầm, san hô. Rải rác trong vùng, đôi khi chúng tôi còn bắt gặp những xác tầu chìm.
Chiến hạm chúng tôi thường công tác đến các đảo: Song Tử Tây, Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, An Bang, Sinh Tồn (Gạc Ma)… Đảo Nam Yết nằm giữa các đảo nhỏ, nên ở đây đặt hậu cứ gồm Trung tâm truyền tin và trạm y tế. Riêng Bộ chỉ huy tiền phương đặt ở Song Tử Tây. Từ đảo này, bằng mắt thường có thể nhìn thấy đảo Song Tử Đông của Phi Luật Tân và đảo Itu-Aba (Ba Bình), do Đài Loan chiếm giữ. Đảo Ba Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa và có nước ngọt (fresh-water).

Song Tử Tây có gì lạ?

Theo khảo cứu địa chất, đảo này giầu tài nguyên khoáng sản. Đảo trơ trọi, chỉ có cây dừa không đủ bóng mát che cái lều lớn binh sĩ đồn trú tại đây. Anh em trông khỏe mạnh, đa số để tóc dài, nước da đen sậm vì nắng cháy. Nếu không nghe họ nói tiếng Việt, bạn có thể tưởng họ là thổ dân trên đảo. Vì tầu lớn mà đảo không có cầu tầu nên anh em lái ca nô ra nhận tiếp liệu hay thay thế binh sĩ mãn hạn công tác. Câu hỏi quen thuộc của anh em là có mang thuốc lá, cà phê? Đặc biệt rượu “Ông già chống gậy” để chúng tôi nhậu lai rai các món hải sản anh em trên đảo tự nấu.

Chim biển

Đảo có hàng ngàn chim biển về làm tổ, đẻ trứng. Bạn có bao giờ ăn thịt chim biển? Mùi vị hơi tanh khi chưa quen. Nếu có thêm gia vị thì không đến nỗi nào! Anh em trên đảo bắt chim, rùa biển phơi khô. Mùa giông bão, tầu tiếp liệu không đến kịp, anh em có thức ăn dự trữ.

Trứng chim

Trên đảo có vô số trứng. Tha hồ nhặt. Đàn chim la hét, bay vần vũ trên đầu mình tỏ vẻ “phẫn nộ” với kẻ ăn cắp trứng. Có con nhào xuống mổ đầu mình. Không đau. Nhưng nhớ đội mũ, đeo kính cho an toàn. Đi biển lâu ngày, thiếu đồ ăn tươi. Buổi sáng uống ly sữa đặc Ông thọ, bỏ thêm vài trứng chim (thay cho trứng gà). Cơ thể như thêm sức.
Quà của lính biển mang về cho người thân hoặc người yêu, không huyền thoại như mang “hoa biển” về tặng em. Thực tế chỉ có hải sản: Thịt chim biển phơi khô ư? Tanh quá nuốt hổng vô! Thịt rùa biển ư? Ăn vô ngứa thấy bà tổ! Tóm lại chỉ có trứng chim được ưa chuộng nhất.

Ốc tai tượng

Tôi có vài lần theo các chiến sĩ người nhái lặn bắt tôm hùm, ghẹ, ốc ở các đảo Cam Ranh, Bình Ba, Nha Trang. Tôi chưa bao giờ thấy ốc tai tượng to đến hai ba gang tay như ở đây. Có lần đi bơi ở Song Tử Tây, khi đứng dưới nước, tôi cảm thấy có vật gì động đậy dưới chân. Theo phản xạ, tôi giật chân lên và lặn xem con gì? Quá đỗi ngạc nhiên, tôi thấy vô số ốc tai tượng. Tôi định bắt vài con về xào hay nấu cháo. Tôi nhặt nhánh cây khô đặt vào miệng ốc, chờ khép lại và kéo ra khỏi cát. Trái như tôi nghĩ, thân ốc nằm trong đá san hô. Dùng hết sức, tôi không thể nào rút cành cây ra khỏi miệng ốc, đừng nói đến đem ốc lên bờ. Chợt nghĩ nếu chẳng may, tay hoặc chân bị ốc kẹp, thì chỉ có nước đi chầu Long vương Hải thần. Lạnh cẳng, tôi bỏ lên bờ, không dám nghĩ đến… nồi cháo ốc.

Rùa biển

Có nhiều loại như: ba ba, đồi mồi… trên đảo mọi người gọi là vít. Họ đi bắt về ban đêm, nhất là mùa đẻ trứng. Tha hồ đào cát lượm trứng. Trứng có vỏ mềm, luộc ăn rất ngon. Thịt vít có người ăn không bị phản ứng. Có người ăn bị ngứa, không ngủ được. Dù sao món hải sản này cũng góp phần thực phẩm cho binh sĩ trấn đảo.

Cá chuồn

Trên biển, thỉnh thoảng thấy vài con cá chuồn bay trên mặt nước như “thủy phi cơ”. Trông rất ngoạn mục. Đôi lúc từng đàn cá mập, nhiều nhất là cá heo, bơi đuổi theo tầu. Một niềm vui bất chợt, vì giữa đại dương bao la không phải chỉ mình ta dong ruổi…
Có lần chiến hạm neo tại đảo Nam Yết, gặp mùa cá chuồn. Ban đêm, xung quanh chiến hạm thường thắp điện sáng trưng. Cá chuồn theo ánh sáng bay lên boong, đụng thành tầu sắt, nằm lăn dẫy đành đạch. Chúng tôi lâu lâu đi quanh tầu, lượm cá vô nấu cháo khuya. Cháo cá chuồn vào mùa có trứng thật tuyệt vời. Ăn tô cháo cá, cam đoan tối ngủ không… mộng mị.

Đối diện với cá mập

Chiến hạm neo tại đảo Sơn Ca, gần một vùng vịnh hình tròn, xung quanh nhấp nhô san hô, chính giữa là một vùng nước trong xanh. Trông thật thanh bình. Sau cơn mưa tối hôm qua, sáng nay bầu trời trong vắt, nắng đẹp. Tầu đi công tác lâu ngày, thiếu đồ ăn tươi. Anh em đề nghị hạm trưởng Nguyễn Kim Triệu cho thả ca nô đi bắt cá. Hạm trưởng thông cảm, vui vẻ chấp thuận. Xuồng nhỏ hạ xuống, từ từ chạy vào vùng vịnh trong xanh phẳng lặng như gương. Hai quả lựu đạn chống người nhái (MK.3) ném xuống biển. Sau tiếng nổ, vài con cá chết từ từ nổi lên mặt nước.
Anh em nhanh nhẹn lặn xuống bắt những con cá còn chìm phía dưới. Đột nhiên từ dưới nước anh em bắn mình lên hốt hoảng la to: cá mập! cá mập! Thì ra mấy con cá mập đánh hơi máu cá chết, phóng vào tranh ăn. Cá mập vùng này da rằn ri, trông rất dữ tợn. Muốn vớt vài con cá nổi trên mặt nước nhưng không có vợt lưới. Định dùng tay vớt cá nhưng thấy vài vi cá mập nổi lên mặt nước, lượn vòng vòng ung dung đớp cá của mình. Chúng tôi hậm hực trở về tay không.

Tắm mưa

Những chuyến công tác xa bờ lâu ngày, việc sử dụng nước ngọt rất giới hạn. Đi biển không nói đến tắm mưa thật là thiếu. Cấu trúc của tầu tuần dương hạm, cho chúng tôi hứng được nhiều nước mưa trên các sàn tầu đổ xuống. Những cơn mưa ngoài đại dương thật thú vị. Mưa đem đến sự tươi mát, tắm rửa, giặt quần áo dơ bẩn theo những chuyến hải hành. Nước ngọt chứa trong hầm tầu vào những ngày sắp cạn, mà vẫn còn phải “vượt bao hải lý, chưa nghe vừa ý, lắc lư con tầu đi”… Làm cho nước có màu vẩn đục vì chất sét thân tàu, chúng tôi vẫn phải dùng và gọi đùa là vitamin iron. Giữ một thùng nước mưa để sau khi tắm nước biển, tưới khắp thân thể bằng hai, ba cốc nước mưa cho sạch chất mặn, hạnh phúc không gì bằng! Lạy trời mưa xuống, có nước tôi uống, có nước nấu mì (gói)…

Quần đảo Trường Sa ngày nay trở thành pháo đài, phi trường quân sự của các quốc gia chiếm đóng. Đặc biệt Trung cộng. Sự nạo vét đất cát, san hô để xây dựng đảo nhân tạo đã phá hủy nguồn hải sản, tài nguyên Biển Đông. Vẻ đẹp thiên nhiên của Trường Sa, thú vui bình dị của người Lính Biển ngày xưa có lẽ bây giờ chỉ là những kỷ niệm…

TRỊNH HOÀI PHƯƠNG

TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA DƯỚI MẮT MỘT NGƯỜI CÒN SỐNG SÓT (Jan 16, 2018)

Posted on  by dongsongcu

Chuyn tht xy ra vào trung tun Tháng Giêng năm 1974

Phó thịnh Đường

Lời Giới Thiệu:

Tất Ngưu là người bạn cùng lớp (Khóa 20) trường Hàng Hải Thương Thuyền (HHTT) – Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, Việt Nam.  Chúng tôi tốt nghiệp vào lúc nước nhà thất điên bát đảo, kiệt quệ trong khói lửa chiến tranh.   Mộng tìm việc làm trên các thương thuyền tan theo mây khói.  Cùng một số bạn cùng khóa chẳng hạn như Nguyễn Văn Kết, Trần Minh Trung, Phạm Tánh Dược, Nguyễn Chánh Nghĩa ,… chúng tôi đành lên đường nhập ngũ tòng chinh.   Một số anh em cùng với tôi đã gia nhập Hải Quân và Quân Vận VNCH với hy vọng có cơ hội áp dụng những kỹ thuật hải hành hấp thụ được ở trường HHTT.  Thế rồi trong một trận hải chiến, chiến hạm bị đánh đắm.   Lênh đênh trên biển cả ba đêm, bốn ngày không thực phẩm và nước uống,  Tất Ngưu đã chết đi rồi sống lại.

Là người may mắn được xem bài tường thuật trong quyển nhật ký được cẩn thận giữ gìn hơn 32 năm qua, tôi đã xin và được anh cho phép đăng tải nguyên văn.

Xin nói thêm là đối với một người đã một lần chết đi rồi sống lại như anh, danh lợi chỉ là chuyện phù phiếm.  Anh đang có một cuộc sống bình dị, thoải mái, không màng đến vinh hoa phú quý. Đăng tải bài tường thuật này là việc ngoài ý muốn của anh, nhưng bởi sự yêu cầu khẩn khoản của tôi,  anh đã đồng ý.   Dẫu sao đây cũng là một dịp để xác nhận chiến công của những chiến sĩ vô danh và các đồng đội mà anh còn nhớ tên trong đó có Trung Sĩ Trọng Pháo (TSTP) Xuân, Hạ Sĩ Nhất Vận Chuyển (HS1VC) Tây, Hạ Sĩ vận Chuyển (HSVC) Sáu, và còn nữa…

Cũng nhân tiện chúng tôi thuộc khóa đàn em Hàng Hải Thương Thuyền (HHTT) xin được cảm kích chiến công của HQ Tr/úy Cơ Khí (CK/HHTT) Huỳnh Duy Thạch là đàn anh (thuộc khóa 13 HHTT), nguyên Cơ khí Trưởng của Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ10 đã đi theo chiến hạm vào lòng đại dương.

Xin độc giả dành cho anh Tất Ngưu và các đồng đội của anh sự tri ơn thành thật nhất.  Riêng tôi, xin “thẩm quyền nước Việt” trao đến các anh bằng Tưởng Lục cao quý nhất, Anh Dũng Bội Tinh, và Đệ Nhất Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, và hằng mong Thượng Đế, Trời, Phật luôn theo sát phò hộ các anh.

Phó Thịnh Đường (nguyên Hải Quân Thiếu Úy Hàng Hải Thương Thuyền)

Florida, Spring 2006

https://i1.wp.com/vnhanghaiphap.free.fr/wp-content/uploads/2017/04/Khoa-20-HHTT-1.jpg

Bổ túc chi tiết:

Trước trận hải chiến, Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ11 hiện diện tại quân cảng Đà Nẵng.   Lúc trận chiến diễn ra, HQ11 đã rời bến đi tăng viện Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10.  Khi rời bến HQ11 đã nhận giữ thư từ của HQ10.  Giữa đường đến quần đảo Hoàng Sa,  để tránh không tập của địch và bảo toàn lực lượng, HQ11 đã được lệnh gọi quay trở về.  Trên HQ11 có HQ Th/úy HHTT Nguyễn văn Kết.  Mới đây Kết có gởi cho Tất Ngưu một điện thư như sau:

(E-mail ngày 30 tháng 3 năm 2006)

Không biết là Tất Ngưu có biết  (hay có nhớ) rằng tớ là người đầu tiên nghe danh sách các chiến sĩ của HQ10, được tầu buôn Hòa Lan vớt lên …

Hôm đó tớ đi ca đêm trên Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ11, khi anh hạ sĩ trực máy truyền tin nhận được tín hiệu từ tầu buôn Hòa Lan, tớ liền lên máy. Bên kia là một giọng nói Việt Nam, đọc cho tớ nghe tên của các chiến sĩ được vớt lên tầu …

Tớ không thể nào diễn tả được cảm xúc của mình lúc đó khi nghe tên của Chuẩn úy Tất Ngưu được đọc lên trong máy …

Ký tên,

Nguyễn văn Kết.

Ho tong ham Chi Linh HQ11

Sau đây là tên các chiến sĩ sống sót được chép lại từ quyển nhật ký của Tất Ngưu:

Danh sách thủy thủ đoàn thuộc Hộ Tống Hạm NHẬT TẢO HQ10 đã trở về sau trận hải chiến Hoàng Sa:

1 Trung sĩ Bí Thư TSBT Võ văn Bằng

2 Trung sĩ Tiếp Vụ TSTV Đỗ kim Hoàng

3 Hạ sĩ 1 Trọng Pháo HS1TP Nguyễn văn Tám

4 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP Trần ngọc Sơn

5 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP  Phạm văn Lợi

6 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP Võ văn Tuấn

7 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP Lê tấn Hưng

8 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP Vương văn Và

9 Hạ sĩ 1 Cơ Khí HS1CK Lưu tố Nữ

10 Hạ sĩ Cơ Khí HSCK Nguyễn hồng Cứng

11 Hạ sĩ Cơ Khí  HSCK Huỳnh văn Hòa

12 Hạ sĩ Tiếp Vụ HSTV Nguyễn văn A

13 Thủy thủ 1 Cơ Khí TT1CK Trần văn Hà

14 Hạ sĩ Bí Thư HSBT  Đỗ văn Thành

15 Thủy thủ 1 Thám Xuất TT1TX Trương văn Long

16 HQ Trung úy K8/OCS Hà đăng Ngân

17 HQ Trung úy K20/NT  Phạm văn Thì

18 HQ Trung úy K1/70 ĐB Ngô văn Hòa

19 HQ Trung úy  K25/VBĐL Nguyễn đông Mai

20 HQ Thiếu úy  K24/NT  Phạm thế Hùng

21 HQ Chuẩn úy  K1/IOCS Tất Ngưu

https://i2.wp.com/vnhanghaiphap.free.fr/wp-content/uploads/2017/04/hoang-sa.png

TRẬN  HOÀNG  SA

Nhật Ký của

Tất Ngưu

blank

 

Sài Gòn ngày 30 tháng 5 năm 1974,

            Tôi đã sống lại một kiếp sống thứ hai.  Phải, tôi đã thoát chết, đã kinh nghiệm một cái sống khi tôi không còn một tia hy vọng trong trí não.  Nhưng thật sự tôi đang còn đây, và tôi sẽ thuật lại một trận chiến hãi hùng đầy cam go, và một cuộc sống lênh đênh trên mặt biển liên tục bốn ngày ba đêm trên một con bè với một túi thực phẩm chỉ gồm kẹo và nước uống.

“Te-Tít … Te-Tít … Te-Tít …Te-Tít … Te-Tít … Nhiệm sở vận chuyển.”

HTH Nhut Tao HQ.10

Hạm trưởng hiên ngang đứng trên đài chỉ huy ra lệnh tháo giây.  Một số anh em khấp khiểng chạy về chiến hạm.  Họ vừa đi nhậu về, hôm nay mới lãnh lương mà. Nhân viên trên tầu chỉ có thế, lãnh lương ra thì lại đi uống rượu.

“Nhanh lên, tầu rời bến, nhanh lên !”

“Tủm !”

“Ối !”

Anh HS1TP Tám chếnh choáng rơi tùm xuống nước.  Tôi thấy hạm kiều náo động, nghe tiếng hối thúc:

“Thả phao”,  “Vớt người”, …

Đó phải chăng là một điềm chẳng lành.

Chiến hạm chúng tôi (HQ10) sau một đêm lình bình tuần tiễu tại cửa Đà Nẵng, nhận lệnh theo HQ 5 trực chỉ quần đảo Hoàng Sa.  Nhiệm vụ của chúng tôi là yêu cầu các thuyền đánh cá của Trung Cộng rời khỏi thềm lục địa của đảo Quang Hòa (Duncan).

“Chuẩn Úy,  Chuẩn Úy, tới giờ đổi ca”.   Mắt nhắm mắt mở tôi nhìn đồng hồ.   Đã 2345H (11 giờ 45 đêm) rồi, nhanh nhỉ.  Thời tiết tháng Giêng còn hanh lạnh, tôi khoác thêm một chiếc áo choàng mầu navy blue.   Nhận ca, tôi được biết chiến hạm đang thả trôi tại quần đảo Hoàng Sa.  Cùng có sự hiện diện của cả khu trục hạm HQ4, hai tuần dương hạm HQ5, và HQ16.

Trong suốt ca trực từ 2400H đến 0400H, tôi cùng HSTP Lợi nói chuyện vui với nhau.  Anh này vừa mới tân đáo và đây là chuyến công tác đầu.  Tôi nghe anh ta kể lại những ngày huy hoàng sống ở giang đoàn.  Nào là bắt những con tôm càng, thịt, bánh mì sandwich, v.v… Nghĩ mà thú nhỉ !

Vào khoảng 0100H, tôi nhận được chỉ thị – không đúng – một công điện khẩn thì đúng hơn:  “0600H GIỜ THI HÀNH”.  Tôi trình công điện lên hạm trưởng.  Đêm đó hạm trưởng an giấc tại phòng vô tuyến phụ, cạnh đài chỉ huy.  Thời gian đi như chợp mắt,  mới đó mà đã đến gần 0400H rồi.  Tôi gọi:

“Anh Lợi ơi, xuống gọi Th/úy Mai lên đổi ca giùm đi!”

Thế rồi hạm trưởng thức giấc.  Đứng trên đài chỉ huy, ông ngó nhìn xung quanh để quan sát vị thế, rồi ra lệnh kéo còi nhiệm sở tác chiến.   Một hồi còi rợn người nổi lên:   “ Tít … Tít … Tít … Tít … Tít … Tít…”  Tiếng của hạm trưởng vang trên hệ thống nội thông :

“Đây là Hạm Trưởng”

“Nhiệm sở tác chiến, nhiệm sở tác chiến”

“Tất cả vào nhiệm sở tác chiến”

“Nhiệm sở tác chiến”

“Tất cả vào nhiệm sở tác chiến”.     “Tít … Tít … Tít … Tít … ……”

Tất cả anh em thủy thủ đoàn vội vã thức giấc.  Ai nấy vào nhiệm sở của mình.  Riêng tôi, vừa đi xong ca cách mạng (phiên trực hải hành từ nửa đêm đến tờ mờ sáng) lại vướng vào nhiệm sở tác chiến, cảm thấy mệt đừ.  Ngay sau đó:

“Nhiệm sở phòng không”   “Nhiệm sở phòng không”

Tôi thấy ngay lập tức những nòng súng rợp rợp hướng lên trời góc 45 độ,  nào là các đại bác 76 ly 2, bô-pho 40 ly, 20 ly, đại liên 30, súng cối 81 ly.

“Đài chỉ huy, đây sân mũi, 76 ly,  2 cò điện bất khiển dụng”

“Thôi được, cho dùng cò chân”

“Đài chỉ huy, đây 41, 42  tôi phát hiện một phi cơ bay từ ánh trăng hướng về phía ta, hướng 3 giờ.”

“Đài chỉ huy nghe rõ, tất cả các khẩu hướng về hướng 3 giờ”

“Đài chỉ huy, phi cơ bay vào mây và mất dạng”

Toàn thể nhân viên chiến hạm cứ luôn ở vào một tình trạng căng thẳng.  Chắc hẳn mọi người, ai cũng đang linh cảm rằng một cuộc hải chiến sẽ xảy ra. Có lẽ cũng giống như các bạn đồng đội, đầu óc tôi đang nghĩ đến một chiến thắng huy hoàng, một ngày về với bộ tiểu lễ trắng tinh, hiên ngang đứng giữa hàng quân, trên ngực đầy những huy chương. Tất nhiên, không ai nghĩ đến hậu qủa của một cuộc chiến:  thương vong.

Khoảng thời gian từ 4 giờ sáng đến 6 giờ sáng ngày 19 tháng Giêng, chiến hạm vẫn tiến, và nhân viên vẫn cảnh giác trước phi cơ của địch.   Trời lờ mờ, chưa tỏ hẳn ánh dương, hải đội của ta lập thành một đội hình.  Bên địch (Trung Cộng) cũng gồm bốn chiến đỉnh 389, 396, 271, và 274, vẫn chạy đan qua đan lại có vẻ như muốn khiêu khích.  Lắm lúc như muốn đâm thẳng cả tầu vào chiến hạm của ta.  Sau một thời gian kèm sát bên nhau, địch và ta dường như đang tìm những vị thế thích hợp để công kích nhau.

Sau một loạt đèn hiệu được choé sáng, từ đảo nọ bốn chiếc tầu đánh cá hướng về phía Bắc, di tản, và bốn chiến  đỉnh  của họ  vận  chuyển  song song  để bảo vệ.

Thế rồi anh em trên chiến hạm thoáng nét vui mừng.

Ồ! họ đã chịu lui bước, trả lại mảnh đất cho chúng ta.  Nào ngờ sau khi bốn tầu đánh cá đi khá xa, bốn chiến đỉnh địch quay đầu trở lại với lối vận chuyển đầy khiêu khích.   Chiến hạm lại nhận được lệnh chuẩn bị tác chiến.  Tất cả nòng súng hướng vào phiá đảo để tránh sự khiêu khích với tàu địch.  Trên tầu anh em xôn xao căng thẳng, chỉ chờ một hiệu lệnh tác xạ ban ra là những viên đạn vô tri này sẽ phá tan một hòn đảo nhỏ bé ngoài khơi, và bao nhiêu nhân mạng trên đảo sẽ bị chôn vùi dưới lòng đại dương.

Trông chờ mãi, khẩu lệnh vẫn chưa được ban hành,  thủy thủ đoàn có phần nản chí, không còn vẻ hăng say của thoạt đầu, xem những cuộc quần thảo giữa địch và ta như trò đùa.   Anh em trở nên chán ngán, quên hẳn sự căng thẳng giữa địch và ta, bẵng đi việc sẵn sàng của nhiệm sở tác chiến.   Một số nhỏ hớ hênh để súng cá nhân xuống sàn tầu rồi cùng trò chuyện vui đùa với nhau.  Thức dậy từ lúc tờ mờ sáng đến giờ không có gì lót dạ,  anh em chúng tôi cảm thấy đói, riêng tôi như thấy kiến bò trong bụng, may quá chúng tôi được lệnh luân phiên nhau vào nhà ăn để dùng cháo.

“Th/úy Mai. Anh vào dùng trước, tôi sẽ ăn sau.”

Khi  Th/úy Mai  vừa  dùng  diểm  tâm  xong, chúng  tôi được lệnh tác xạ mà mục tiêu là các chiến hạm địch:  Bất kể nơi nào, thấy chiếc nào trong tầm thì cứ bắn, mục tiêu chính yếu là chiếc dương tốc đỉnh 396.

Và rồi những nòng súng nay đã được hướng vào chiến hạm địch.  Rồi những chiến hạm của địch và ta lại tiếp tục quần thảo nhau.

Vào khoảng sau 0900H, một lệnh “BẮN” được ban hành mà tôi nghe được qua chiếc headphone.  Riêng tôi, trong nhiệm sở tác chiến là sĩ quan đảm trách 2 khẩu 20 ly và súng cối 81 ly ở sân sau.  Tôi vội vã hô to:

“Bắn, bắn nhanh lên”.

Những tiếng súng ầm ầm vang dội, những tia sáng thi nhau bay về phía địch, những đóm lửa lần lượt bao chụp lên chiến hạm địch.

TSTP Xuân hiên ngang đưa khẩu 20 ly qua lại,  bắn liên hồi.

“Tạch … Tạch … Tạch …”

“Ối ! sao khẩu 20 ly không bắn nữa ?”

“Thưa Ch/úy, súng trở ngại tác xạ”

“Trở ngại thế nào ?”

“Kẹt đạn”

“Bắn một nòng”

“Tạch … Tạch … Tạch …”

“Hết đạn”

“Nằm xuống, để tao”,  Hạ sĩ nhất vận chuyển Tây thét lên, gạt Xuân ra, dựt lấy khẩu 20 ly.

“Tạch … Tạch …Tạch ..”

Trong khi đó HSVC Sáu lom khom chạy qua chạy lại lấy đạn 81 ly nạp vào khẩu súng cối.

“Ầm!”  “Ầm!”

Tầu địch bốc cháy.  Tôi thấy những viên đạn trọng pháo lớn nhỏ đua nhau bám vào tầu địch.

“Rầm !!!”

Có giọng nói giữa đám anh em đang hỗn loạn:

“Tàu Trung Cộng đổ bộ, anh em cẩn thận”.

Một loạt đạn M16 túa bay ra từ đài chỉ huy.  Nhìn phía trước, tôi thấy mũi tầu của ta đâm vào tầu địch.  Thế rồi hai tàu từ từ dang ra.  Tàu ta bất khiển dụng cả hai máy chánh, cứ vậy mà  trôi lênh đênh.

Sau khi hai chiếc tàu đụng nhau, tiếng súng lớn dường như im bặt, chỉ còn nghe những tiếng súng nhỏ.  Giai đoạn hải chiến hình như chấm dứt.  Anh em đồng đội chuẩn bị cứu thương lẫn nhau.  Hầm máy đang cháy, nhân viên phòng tai lo cứu hỏa.  Một số nhân viên cơ khí chết thui dưới hầm máy.  Những anh còn tỉnh thì được kéo lên boong chánh.  Trung úy Huỳnh Duy Thạch (cùng là đàn anh của tôi xuất thân từ trường Việt Nam Hàng Hải Thương Thuyền, cũng là Cơ Khí Trưởng của chiến hạm HQ10, chẳng may đã tử trận trong hầm máy.  Ôi ! tiếng rên la áo não ngần nào.  Đài chỉ huy hoàn toàn tê liệt, cả cầu thang từ trung tâm chiến báo (CIC) lên đài chỉ huy cũng bay mất một góc.

HTH Nhut Tao HQ10..jpg

Phòng y tá hoàn toàn thiêu trụi.  Trong phòng ăn sĩ quan (được sử dụng làm trung tâm phòng tai), sĩ quan phòng tai HQ Thiếu Úy Bửu (Khóa 25/Võ Bị Đà Lạt) đang rên la với một chân trái bị bay mất, máu ướt đẫm người. Vừa được đưa ra đến sân sau, anh đã trút hơi thở cuối cùng.  Các anh em bị thương khác không có thuốc men cấp cứu gì hơn, chỉ dùng vạt áo để băng bó.

“Ồ ! HQ16 , anh Thương hãy đánh SOS cho họ đến tiếp cứu!”

Chúng tôi đánh hiệu bằng cờ, nhưng HQ16 đã quay đầu đi thẳng trong sự thất vọng hoàn toàn của chúng tôi.  Những tiếng súng lại bắn vang, cùng với những tiếng nổ trên tàu.  Chính lúc này Thiếu Tá Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà đã anh dũng hy sinh trên đài chỉ huy.  Tôi còn nhớ là đài chỉ huy trước khi bị tê liệt hoàn toàn đã ra lệnh cho chúng tôi đào thoát.  Những giòng tư tưởng quay cuồng trong tôi.  Thế còn tàu?  và nếu có đào thoát, chắc hẳn có sống không? Rồi tôi tự nhủ rằng HQ16 sẽ quay lại cứu mình.

Những tiếng súng lại vang lên, tiếng nổ trên tàu lại tiếp diễn.  Nhìn  ra  phía  sau, hai  chiến  hạm  địch  lù lù tiến đến, hướng về phía mình.  HQ16 di tản càng ngày càng xa.  Trên boong thây xác ngổn ngang, chiến hạm trơ trơ mặc sóng gió đẩy đưa. Trên mặt biển, đồng đội lô nhô trên những bè cấp cứu.  Ôi thay! tôi tự hỏi mình có nên đào thoát hay không.

Hạ sĩ nhất cơ khí Nữ chạy đến với giọng rung rung:

“Ch/úy.  Ch/úy biết bơi có gì Ch/úy kéo hộ tôi nhé!”

“Rồi cứ nhẩy đi, tôi sẽ kéo ra bè cho.”

“Ch/úy, phao này cho hơi vào cách nào ?”

Tôi bèn kéo chốt cho hơi vào phao và nói anh ấy nhẩy đi.  Một chốc sau ngó xuống nước tôi lại không thấy anh ta đâu nữa.  Tôi đoán có lẽ vì sóng to quá nên anh ta dạt vào thành tàu.  Ngay lúc đó, anh TSVC Đa và HSCK Hòa hấp tấp chạy đến:

“Ch/úy nhẩy nhanh lên, kho đạn 20 ly và 40 ly nổ, nhẩy nhanh lên!”

TSVC Đa, HSCK Hòa, và tôi cùng nhảy xuống.  Tôi hoảng khi thấy bè thì quá xa, sóng lại to, ngẩm không biết mình có thể bơi ra đến nơi không.

Xin mở ngoặc nơi đây là: Trước khi đào thoát, tôi có gọi luôn cả HS1VC Tây cùng nhẩy, nhưng anh ta trả lời rằng: “Thôi, tôi ở lại ăn thua đủ với Trung Cộng. Ch/úy cứ nhẩy đi.”

Thật đúng y như câu nói của người xưa:  “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.  Chẳng biết HS1VC Tây có được đến trường để học và thấu hiểu câu nói thâm thúy này không?  Anh có nghe ai bàn về câu nói ấy không?  !! Thế mà anh đã thực hiện được sự việc đó mới là hay chứ.  Việc mà chỉ có những đại anh hùng, các bậc trượng phu không biết “tham sinh úy tử” là gì họa may mới làm được.  Thật là anh hùng.  Tôi xin ngã mũ.

Lớp ngớp trên mặt biển, bơi mãi vẫn không đến bè được, tôi mới tiếc rẻ: “Ối ! phải biết ở lại tàu còn hơn!”  Chất thuốc mầu vàng của bao thuốc trị cá mập trong phao cá nhân của tôi đã được bật ra,.  Thuốc hòa lẫn với nước biển biến thành một vũng mầu xanh lá cây.  Tôi cứ bơi, bơi mãi, bè cứ dạt xa. Mỗi lần sóng đánh đến, nước biển lại tràn vào miệng cùng với thuốc trị cá mập, có vị đắng đắng cay cay,  Ôi ! hơi sức nào để ý  đến nữa, mục đích là sự sống.  Chỉ làm cách nào bám vào được bè, mạng sống mới có thể vãn hồi.  Nhưng mệt nhừ rồi, còn sức đâu nữa mà bơi ra bè.  Không, ta phải sống, bản năng sinh tồn lúc đó không cho phép tôi ngừng, cứ bơi, bơi mãi, đến khi bám được bè, nhìn thấy mặt anh em, tôi ngất đi trong giây lát.  Phải chăng lực tiềm tàng trong cơ thể đã cạn, hay là ta đã tìm thấy sự sống nên lực đó không cần thiết nữa.  Khi được kéo lên bè, người tôi lã đi vì đói khát mệt mỏi.

Thật là “họa bất đơn hành”, sau khi ngồi yên trên bè, kéo chung những bè lại, nhìn về hướng tàu, trong khi hai chiếc tốc đỉnh của Trung Cộng sân sân tiến tới, khẩu 20 ly trên HQ10 cứ nổ vang.  Hai chiến hạm của TC cũng không vừa, cứ vừa tiến vừa tác xạ, thế rồi khẩu 20 ly đành im bặt.  Những tiếng súng sau cùng đó…  Hỡi ơi ! anh Tây, anh Sáu, các anh đã hy sinh đền nợ nước cùng một số đông các chiến sĩ bất tử của HQ10.  Các anh ngã mình một cách anh dũng, nhưng có ai biết đến, chỉ có những đồng đội cùng tàu với hai anh mới thấu hiểu.  Nói đến sự hy sinh chiến đấu vô vọng, tôi biết rằng giá trị còn tùy thuộc quan niệm của mỗi con người.  Có người cho rằng: “Quân tử phục thù, thập niên vị vãn”.  Nhưng theo tôi, các anh là những tấm gương anh dũng rạng ngời.  Đúng như vậy, anh Tây rất xứng với dòng chữ xâm trên tay “Mặc Thế Nhân”.  Thân xác hai anh giờ này đã chôn vùi dưới đáy biển Hoàng Sa cùng với chiếc tàu thân yêu HQ10.  Ước gì tên tuổi của hai anh HS1VC Tây và HSVC Sáu được lưu mãi trong sử xanh.

Hai chiến hạm của dòng khát máu Cộng Sản Trung Cộng vẫn không buông tha một chiến thuyền đã đang bốc cháy và bất khả vận chuyển.  Chúng cứ luân phiên nhau vây đánh chiếc HQ10, sau đó quay đầu tiến đến bè của chúng tôi.  Chúng tôi nghĩ là nếu họ tác xạ mình thì anh em lại đào thoát lần thứ hai.  Mắt Thượng Đế vẫn còn đây, bầu trời xanh lồng lộng còn đó, mọi sự đã an bài sẵn.  Tôi tự nhủ hãy phó thác mạng sống mình cho Trời Phật.  Số đã sống thì không thể chết, số chết thì không sao cứu vãn được. May thay họ lại bỏ đi.  (Tôi nghĩ rằng không phải họ vì nhân đạo – cộng sản làm gì có nhân đạo – lý do chính là chung quanh đây chỉ có những đảo mà họ chiếm và cả một mặt biển rộng mênh mông.  Họ chẳng cần vớt người làm chi cho nhọc công, để chúng tôi chết dần mòn khỏi phải mang tiếng với quốc tế.)

Qua cơn bỉ cực đầu tiên, tôi phải đương đầu với đại dương trùng sóng và đói khát.  Người đã mệt lã đi, lại cứ nôn mửa suốt hơn cả tiếng đồng hồ.  Tôi say sóng cũng thường rồi, nhưng lần này uống nhằm mấy ngụm nước có thuốc trị cá mập, tôi ói ra hết mật xanh, mật vàng. Vừa ói vừa rên, tôi cảm thấy người không còn chút sức lực nào.

Nhìn lại xung quanh, tôi thấy tất cả có năm chiếc bè, bốn lớn và một nhỏ, hầu hết đã bị bắn thủng.  Chúng tôi cột chung các bè lại với nhau. Nhưng vì sóng to gió lớn, một cái bè bị tản mác. Mặc dù chúng tôi đã tìm mọi cách nhưng không thể lại gần nó được.  Bè đông người và được cột chum nhau, chìm xuống mặt nước. Chúng tôi không có một dụng cụ nào khác để chèo ngoài những bàn tay hết sinh lực. Trôi đến chiều hôm đó (ngày 19 tháng giêng), chúng tôi thấy một hoang đảo có nhiều cây cối.  Mắt trông thật rõ nhưng lấy tay khoát nước mãi vẫn không sao lại gần đảo được, vì hôm đó sóng quả rất to.

Sau khi kiểm điểm lại chúng tôi chia làm bốn bè:

Bè số 1: coi như bè hướng dẫn, gồm có tôi, Tr/úy Thì, Tr/úy Hòa, Th/úy Mai, HSBT Thành, HSCK Hòa, và TS1GL Thương.

Bè số 2: bè hậu bị tiếp sức, gồm có Th/úy Hùng, TSBT Bằng, TSTV Hoàng, HSTV A, HSTP Lợi, HSTP Tuấn và TT1CK Hà.

Bè số 3: bè tản thương, gồm HS1TP Hưng, HSTP Và, TSQK Tuấn, ThSTP Châu, TSĐT Thọ.

Bè số 4: bè dưỡng thương, đó là một bè nhỏ có hai mảnh ván bé kê lên để bệnh nhân có thể nằm cho không ướt người.  Bè gồm có TSVC Đa, và TSTP Nam.

Riêng về bè trôi dạt không thể cột chùm được kia gồm có: Hạm Phó Trí, Tr/úy Ngân, HS1CK Nữ, HSTP Sơn, HSCK Cứng, TT1TX Long.

Bầu trời đã tối mịt, sóng lại to hơn.  Anh em mệt lã người phần vì đói khát, phần vì mệt nhọc sợ hãi.  Chúng tôi cứ mặc cho bè trôi quanh đây với hy vọng sáng sẽ bơi vào đảo được.  Đêm hôm đó Hạm Phó Trí đã trút hơi thở cuối cùng.  Thân xác Hạm Phó cũng đành giao cho thủy thần định liệu.

Suốt đêm cơn lạnh đã hành hạ cơ thể của tôi, với bộ quân phục ướt như chuột lột.  Anh em cứ ôm gồng lấy nhau mà rung rẩy chờ đêm qua.  Đêm sao qua chậm thế!  Giờ này mới ba giờ đêm, bốn giờ, năm giờ, … trời bắt đầu sáng.  Thật là quái dị.  Đêm vừa qua lại không trăng sao, sáng nay mặt trời lại không mọc.  Phải chăng ông Trời cũng không dám diện kiến một cảnh tượng thê lương trên biển của thủy thủ đoàn HQ10?

Thân mệt nhừ, tôi quay qua quay lại nhìn dáo dác, rồi lẩm bẩm:

“Ủa ! đảo hôm qua đâu ?! Thôi rồi anh em ơi, chúng ta không biết đã trôi về đâu?!”

Ai nấy đều lộ vẻ thất vọng. Khi TS1GL Thương mang ra được một la bàn cầm tay thì chúng tôi mới hỡi ơi là hiện tại luồng nước xoáy đang đưa bè theo hướng Đông Bắc, nếu muốn vào đảo anh em phải chèo ngược lại theo hướng Tây Nam.

Cơn đói khát lại hành hạ.  Sau khi kiểm điểm thì thấy bè số 1 không có bao thực phẩm nào cả dù rằng dây buộc vẫn còn đó.  Bè số 2, 3 mỗi bè gồm một bao thực phẩm chứa 20 lon nước (cỡ chai coca-cola) và 12 bao kẹo, mỗi bao gồm 8 miếng kẹo.   Thế rồi phải lấy ra gom lại chia đều ra.  Trong đó có 6 bao kẹo không thể sử dụng được, nhưng cũng để dành lại đó.  Chúng tôi khui những lon nước, mỗi người hớp một ít, và ăn một miếng kẹo.

Những người bị thương nặng như TS1GL Thương, TSQK Tuấn, có lẽ bị mất quá nhiều máu nên họ cứ đòi nước mãi.  Ngày đầu tiên trôi dạt trên biển chúng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ lên được một đảo nào đó gần đây, hay có thể được chiến hạm của ta ra cứu vớt, nên vấn đề uống nước ngọt chưa bị hạn chế.  Nhất là nghe các anh bị mất nhiều máu rên rỉ gọi khát chúng tôi chúng tôi không đành nên cho họ uống cả lon.  Khoảng 9 giờ sáng ngày 20 tháng Giêng, TSQK Tuấn đã ra đi một cách âm thầm không một lời trối trăn,  mà cách đó ba bốn giờ đồng hồ miệng cứ kêu la khát, khát quá…. Ý thức được rằng sẽ còn nhiều ngày lênh đênh trên biển nữa, nước ngọt rất cấp thiết, chúng tôi tự hạn chế trong việc sử dụng nước ngọt và kẹo. Bè cứ mặc cho dòng nước đưa trôi. Sáng hôm nay lại nghe những tiếng súng nổ vang.  Chúng tôi thắc mắc phải chăng chiến hạm tăng phái của ta đã đến và một cuộc hải chiến lại tiếp diễn?

“Anh em hãy gắng sức chèo về hướng Tây Nam, đúng hướng đó rồi, hướng của những hòn đảo hôm qua ta tranh giành.”…

“Cố lên anh em, chúng ta sẽ sống nếu gặp lại tầu bạn.”…

Khoát nước, chèo mãi vẫn không đi tới đâu.

“Thôi chúng ta tháo hai miếng ván của bè nhỏ để chèo đi, chèo mãi theo hướng Tây Nam sẽ đến đảo ngay.”

“Anh em cứ cố gắng lên, đừng nghỉ tay, nếu không công trình khoát chèo, bơi từ sáng đến gìờ coi như hoang phí.  Đêm nay chúng ta luân phiên chèo nhé!”…

Bè nay đã được cột chùm vào nhau; lúc đầu cột ngang nhau, nhưng sóng đập mạnh, các bè cứ va đập vào nhau.  Bè lật, vỡ bể thêm ra.  Sau cùng đành cột theo hàng dọc nối đuôi nhau.  Bè của tôi dẫn đầu, sau đến bè số 2, số 3, rồi bè nhỏ.  Những bè sau đa số là anh em bị thương, mệt mỏi, chán nản, nên chỉ còn chúng tôi (Tr/úy Thì, Th/úy Mai, Th/úy Hùng, Tr/úy Hòa, HSTV A, và tôi) là những người còn đủ sức để chèo.   Đêm đó cứ luân phiên nhau mà chèo. Lúc đầu dựa vào hướng của la bàn, nhưng trong đêm tối la bàn đã bị đánh mất, phải nhờ các vị sao định hướng để chèo.  Suốt đêm anh em chỉ được nghỉ ngơi đôi chút.

Khoảng sáu bảy giờ sáng ngày 21 tháng Giêng, thình lình tôi thấy hướng Tây Bắc có hỏa châu lóe lên rồi mất hẳn.  Tôi mới hô to:“Có hỏa châu, một là chiến hạm tìm kiếm ta, hai là lính địa phương quân trên đảo.  Anh em hãy chèo về hướng đó nhanh lên!”

Nhưng trời chưa tha bọn người hoạn nạn như chúng tôi. Sáng hôm đó sóng quá to, hơn nữa lại phải chèo ngược sóng, cho nên cứ chèo mãi mà hình như bè vẫn ở tại chỗ.  Buồn thay, buổi sáng nay thêm một bạn đồng nghiệp nữa lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt – TS1GL Thương.  Buổi chiều, thêm TSĐT Thọ từ giã anh em.  Xin được mỹ miều chua xót ghi là “Sáng, thủy thần lại gọi thêm trình diện thủy cung. Chiều, thêm người theo hạm trưởng đi công tác đáy biển bằng tàu ngầm HQ10.”

Có lẽ trước vài tiếng đồng hồ mà thủy thần gõ cửa kêu tên, mọi người đều nghe văng vẳng bên tai một cách yếu ớt “Khát quá … khát quá …”  Tinh thần của anh em lúc này có vẻ giao động, nghĩ đến giây phút thần chết sắp gọi tên mình, nghĩ đến những bạn đồng đội đã đi “công tác trên tầu lặn với hạm trưởng.” Nếu không muốn nói là mọi người như sắp điên loạn.  Chiều hôm đó Thượng Sĩ Châu hỏi tôi:

“Đây cách Đà Nẵng bao xa?”.

“Khoảng trăm mấy, hai trăm hải lý.”, tôi nói.

Thế là ông tuyên bố ai muốn cùng đi với ông ta về Đà Nẵng thì đi, nếu không ông sẽ đi một mình!  Đoạn ông đẩy những anh bị thương trên bè xuống biển.  Thế rồi chúng tôi lại phải thất công lần lượt kéo từng người lên.   Thượng Sĩ Châu đã mất trí !!

Ban ngày nhìn thấy chim hải âu bay qua lượn lại, chúng tôi cứ hy vọng gần đây sẽ có đảo.  Nhưng nhìn dáo dác, biển cả vẫn hoàn toàn biển cả.  Kẹo và nước ngọt đều dùng cạn.  Anh em bắt buộc phải dùng những lon không đã hết nước, pha nước tiểu với nước biển để uống.  Lúc bấy gìờ không ai để ý đến đói, nhưng cơn khát hoành hành cảm thấy thấm thía.  Đêm đó ai nấy đều mệt nhừ, đến nỗi các giây cột các bè lại với nhau đứt hồi nào không hay.

Sáng hôm nay, ngày 22 tháng Giêng, tỉnh dậy tôi không còn thấy một bè nào cột bên cạnh bè mình.  Nhìn về trước, một bè trôi khá xa.  Ngó về phía phải cũng thấy một bè, nhưng cố gắng chèo mãi mà không sao tới nổi.  Dần dần những bè đó khuất dần ngoài tầm mắt của tôi  Trưa rồi lại chiều.  Chân tôi giờ này sưng thủng, không sao cử động được, miệng cứ tự động thều thào hai tiếng “khát quá … khát quá”.  Mắt, miệng đã sưng vù lên.  Th/úy Mai đã nói lâm râm:

“Ch/úy Ngưu chắc không qua khỏi đêm nay.”

Tai tôi vẫn nghe thấy những tiếng đó, đầu óc tôi cũng biết rằng mình không thể nào thoát khỏi tử thần trong đêm nay – có lẽ giờ này hạm trưởng đang cứu xét mình có đủ điều kiện đi tàu lặn HQ10 chăng?

Chiều hôm đó, khoảng sáu giờ, anh em chuẩn bị ôm lấy nhau để qua đêm rét buốt.  Thình lình HSCK Hòa thét lên: “Có tàu!”

“Ôi ! tàu đâu, tàu đâu?”

Một cứu tinh hiện trước mặt.  Lúc đó tự dưng tôi bật đứng lên trên bè được, tay gỡ áo phao đỏ mà phất.  Tôi hy vọng họ sẽ phát giác ra mình, dù rằng chiếc tàu cứu tinh còn cách bè mấy hải lý.

https://i2.wp.com/vnhanghaiphap.free.fr/wp-content/uploads/2017/04/MS-Kopionella.jpg

“Phải rồi ! Chúng ta đã sống, tàu đang ngừng!”

“Có lẽ họ đã phát hiện chúng ta, anh em cố chèo về hướng tàu nhanh lên, nếu đêm tối họ sẽ không nhìn thấy để cứt vớt ta, la lớn lên anh em.”

“ Một hai ba… Ô!”  “ Một hai ba… Ô!”  “123…Ah!”  “123… Ah!”, một mặt lo chèo, mặt khác la to lên.

“Hình như bè không tiến tới chút nào cả, và tàu họ cũng không vận chuyển!”

“Anh em ơi, nhẩy xuống bơi!”

Nhưng hơi sức đâu mà bơi nữa.  nhất là vùng này đầy cá mập, nay thuốc chống cá mập lại không còn.

“Ô kìa! tàu quay đi đâu? thôi chết rồi, hết hy vọng rồi,  cố lên anh em!”

Hy vọng xen lẫn thất vọng.  Màn đêm đang dần dà bao phủ thì bỗng xa kia ánh sáng đèn tàu rực lên.  Ôi chao! Trông chiếc tàu dễ thương biết bao!  Sau đó một ánh đèn pha rọi sáng và từ từ di chuyển.

“À ! họ đã thả dzu dzu ra để vớt chúng ta.  Sao họ chạy đường kia?”

“Có lẽ họ đang vớt đồng đội mình.  Kìa, họ tới mình, la lên cho họ biết anh em!”

“Ah ! Oh ! help us sir, please help us.”

“Okey, take it easy, be careful.  Are there any wounded ?”

“Yes sir, most of us are wounded.”

“All right …”

Chiếc dzu dzu từ từ cặp sát bè và đưa chúng tôi lên. Dzu dzu chạy một cách chậm chạp về tàu.  Trên dzu dzu ngoài một nhân viên lái, và hai nhân viên phụ tá còn có vị thuyền phó người Hòa Lan, tay cầm một máy truyền tin đang liên lạc với thuyền trưởng,.  Chiếc dzu dzu cặp sát vào tàu.  Trên tàu, các thủy thủ người Hồng Kông đang thả dây xuống, móc vào dzu dzu.  Thế rồi dzu dzu được nhẹ nhàng kéo lên.  Khi thành của dzu dzu ngang với boong tàu, một cầu thang bật ra, lần lượt cứ hai nhân viên lại dìu một người chúng tôi lên tàu.

Họ đưa chúng tôi vào một phòng ngủ, cởi tất cả quần áo ướt  ra, đắp cho mỗi người một tấm chăn, rồi cho chúng tôi luân phiên đi tắm rửa bằng nước ấm.  Cùng lúc đó họ đem cho chúng tôi sữa tươi, cà phê, soup, thuốc lá.  Sau đó thuyền phó hỏi tôi là hình như trong nhóm có một lieutenant.  Tôi đáp lại rằng chỉ có Lieutenant Junior Grade (tức là trung úy) và chỉ Tr/úy Thì.  Ông  đưa Tr/úy Thì đi tắm rửa và lên phòng  ông để liên lạc với Hải Quân Việt Nam.

Chúng tôi đã thật sự sống lại.  Ngay khi đó đồng hồ tôi chỉ đúng 12 giờ khuya, tôi hô to lên với anh em:

“Chúng ta đang qua đêm giao thừa trên chiếc tàu Hòa Lan Kopionella, vị ân nhân của chúng ta!”…

 Ghi chú:  Th/úy Nguyễn đông Mai là một sĩ quan hiện dịch, xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trước khi xảy ra trận chiến anh đã có nghị định và sắp đến ngày đeo lon Trung Úy; sau khi trở về, Tr/úy Mai được đặc cách thăng cấp lên chức Đại Úy. 

Tác giả: HQ Th/úy HHTT Tất Ngưu HQ10

Bổ túc chi tiết: HQ Th/úy HHTT Nguyễn văn Kết HQ11

Sửa kỹ thuật: HQ Th/úy K25NT Lê văn Kim

Giới thiệu và đánh máy: HQ Th/úy HHTT Phó thịnh Đường

Yêu cầu:  Tất cả bạn hữu và chiến hữu Khóa 25 SQ/HQNT và IOCS

Giải mật báo cáo của CIA trình Tổng thống từ thập niên 70

VOA -30/8/2016

Vice presidential nominee Gerald R. Ford, right, listens as President Richard Nixon speaks in the Oval Office of the White House in Washington on Saturday, Oct. 13, 1973. Ford went to the White House to meet with the president after holding a news conference on Capitol Hill. At left is Secretary of State Henry Kissinger. (AP Photo/Harvey George)

Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ CIA vừa công bố 2.500 báo cáo thường nhật về hoạt động tình báo nước ngoài trình cho Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford trong thập niên 70 vốn được bảo mật trước đây. Động thái này làm sáng tỏ về một kỷ nguyên quan trọng của thời Chiến tranh Lạnh cùng các biến cố Đệ tam thế giới.

Trong số 28.000 trang tài liệu là những tin tức quý giá hấp dẫn về những vấn đề thế giới, trong đó có cuộc chiến Việt Nam gây nhiều tranh cãi đã khiến hơn 58.000 binh sĩ Mỹ thiệt mạng.

Các báo cáo này được đệ trình lên Tổng thống Nixon và Tổng thống Ford trong 8 năm hai ông ngụ tại Tòa Bạch Ốc bắt đầu từ ngày 20 tháng 1 năm 1969. Các tài liệu này cho thấy rõ nội dung các sự kiện như chuyến thăm lịch sử đầu tiên của Tổng thống Nixon tới Trung Quốc và Liên Xô, và chuyện ông Nixon bị thất sủng đưa đến việc từ chức.

Các báo cáo trong thời gian ông Ford làm Tổng thống nêu lên chi tiết các diễn tiến lịch sử như kết thúc chiến tranh Việt Nam và cái chết của Mao Trạch Đông, người sáng lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Khi Tổng thống Nixon tới Bắc Kinh ngày 21 tháng 2 năm 1972, báo cáo ghi chép tỉ mỉ các giới chức Trung Quốc nào tham dự các sự kiện nào, một nỗ lực để hiểu rõ hơn hoạt động của Bộ Chính trị Trung Quốc mà cho đến nay vẫn còn được quan sát chặt chẽ.

Các báo cáo vừa kể, dài khoảng 10 trang, cho thấy CIA biết rất ít về Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới vừa bắt đầu tái lập sự hiện diện trên thế giới sau hơn hai thập niên cô lập.

Báo cáo của CIA sau đó thông báo cho Tổng thống Nixon rằng chuyến thăm của ông tới Trung Quốc gây rúng động Liên Xô và Nhật Bản, đồng thời thúc đẩy các nước châu Âu giao tiếp với Trung Quốc. Phúc trình ghi nhận là Trung Quốc ‘nhìn chung hài lòng’ về chuyến công du của Tổng thống Nixon.

Ông Salvador Allende (trái) thuộc liên minh cánh tả của chủ nghĩa Mác được ứng cử viên Đảng Dân chủ Cơ đốc Radomiro Tomic chúc mừng chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Chile tại tư gia của ông Allende ở Santiago, ngày 5 tháng 9 năm 1970.

Ông Salvador Allende (trái) thuộc liên minh cánh tả của chủ nghĩa Mác được ứng cử viên Đảng Dân chủ Cơ đốc Radomiro Tomic chúc mừng chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Chile tại tư gia của ông Allende ở Santiago, ngày 5 tháng 9 năm 1970.

Vào ngày 10 tháng 8 năm 1974, một ngày sau khi Tổng thống Nixon từ chức, báo cáo trình cho Tổng thống Ford vừa lên tuyên thệ nhậm chức cung cấp những chi tiết về phản ứng của thế giới đối với việc Tổng thống Nixon rời khỏi nhiệm sở.

Báo cáo nói ‘những nhân vật có khả năng gây chuyện lùm xùm không một ai đưa ra một lời bàn tán nào.’

Trong một báo cáo cách đó một năm rưỡi, Tổng thống Ford được thông báo về cái chết của Mao Trạch Đông, người được mô tả là một ‘thế lực chế ngự chính trị Trung Quốc.’

Qua các báo cáo cao cấp của CIA công bố hôm thứ Tư tuần rồi, không thấy được mức độ ảnh hưởng của chúng ra sao đến những quyết định của Tổng thống Nixon, vì ông Nixon có khuynh hướng tách biệt và biệt lập. Tổng thống Nixon không trực tiếp nghe các giới chức CIA thuyết trình, mà thay vào đó, nhận báo cáo từ cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger.

Một câu chuyện về CIA cũng được công bố hôm thứ Tư cho thấy các giới chức CIA nản lòng vì không được tiếp cận với Tổng thống Nixon, người có ác cảm với cơ quan tình báo này trong thất bại trước Tổng thống John F. Kennedy ở cuộc bầu cử năm 1960. Ông Nixon cho là CIA đã không bất tín hóa ông Kennedy trong quyết đoán sai lầm của ông Kennedy rằng Mỹ đã để mất vị trí lãnh đạo về công nghệ phi đạn đạn đạo xuyên lục địa vào tay Liên Xô.

Trong một bản báo cáo năm 1973, ông Nixon được thuyết trình về cuộc họp sắp diễn ra vào ngày 26 tháng 5 của những nhà lãnh đạo Tổ chức Đoàn kết châu Phi. Phúc trình cho biết sự hiện diện của Israel tại châu Phi sẽ là một vấn đề chính của hội nghị, thúc đẩy bởi đòi hỏi từ Tổng thống Libya, Moammar Gadhafi, rằng “Các quốc gia châu Phi phải cắt đứt các mối quan hệ với Israel hoặc phải đối mặt với việc Libya cắt viện trợ dành cho các nước này cùng những tổ chức giải phóng châu Phi.”

Tại Chilê, một quốc gia Nam Mỹ, việc ông Salvador Allende đắc cử trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1970 khiến Tổng thống Nixon lo ngại vì ông cho rằng Chile có thể trở thành một nước Cuba thứ hai, một nước cộng sản ở Tây Bán cầu.

Trong 3 năm kế tiếp, Tổng thống Nixon và ông Kissinger dùng CIA để bí mật ủng hộ cho các đối thủ của ông Allende với ý định đẩy ông ra khỏi chức vụ hay kích động đảo chính. Ông Allende bị giết trong cuộc đảo chính tháng 9 năm 1973 do tư lệnh quân đội Augusto Pinochet thực hiện. Việc này đã gây ra các cuộc tranh cãi nhiều thập niên về vai trò của CIA trong cuộc đảo chính. Các bản báo cáo vừa công bố không xác nhận là CIA trực tiếp ủng hộ việc lật đổ chính phủ Chilê.

Các báo cáo chú trọng nhiều đến những diễn tiến tại Đông Dương, nơi Hoa Kỳ có ý muốn rút khỏi cuộc chiến Việt Nam và ủng hộ các chính phủ yếu kém ở hai nước lân cận là Lào và Campuchia.

Không phải tất cả các thông tin của CIA đều chính xác. Lúc cuộc chiến Việt Nam đến gần hồi kết, một bản phân tích trình cho Tổng thống Ford vào ngày 28 tháng 3 năm 1975 dự đoán là quân đội miền Nam Việt Nam do Mỹ huấn luyện sẽ có thể duy trì ổn định cho đến “đầu năm 1976.” Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, quân đội cộng sản Bắc Việt đã chiếm được Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam.

Tổng thống Ford tiếp nhận các báo cáo thường nhật của CIA khác với cách của Tổng thống Nixon. Ông Ford là tổng thống đầu tiên yêu cầu một giới chức CIA hằng ngày thuyết trình các báo cáo này.

Việc công bố các bản báo cáo này nằm trong khuôn khổ nỗ lực tiếp tục công khai hóa các phúc trình tình báo cho Tổng thống Mỹ. Các tài liệu mới nhất này do Giám đốc CIA John Brennan và Giám đốc Tình báo Quốc gia James Clapper công bố tại Thư viện Tổng thống Richard Nixon ở Yorba Linda, bang California.

MUST READ! Một Thói quen chết người

MUST READ! Đừng bỏ qua bài viết này 90% mọi người đều có thói quen này!

Tìm khắp các phòng trong nhà vẫn không nhìn thấy cô ấy, sau đó phát hiện thi thể cô ấy mặc bộ đồ ngủ nằm trên sàn phòng tắm, hơi thở, và nhịp tim đều đã đứt.
Các bác sĩ cho biết cô ấy có khả năng do nín tiểu quá lâu rồi bất ngờ đi tiểu, làm cho thần kinh, và bàng quang thông khoái quá nhanh, khiến tụt huyết áp, nhịp tim đập mạnh, suy não do đó gây ra tiểu tiện ngất. Tuy nhiên, sau khi ngất xỉu, không được điều trị kịp thời dẫn đến cái chết đột ngột.

Căn cứ vào việc đi vệ sinh khoảng 6-8 lần trong một ngày, cuộc sống của hầu hết mọi người có khoảng 2-3 năm là dành thời gian trong nhà vệ sinh. Cùng với thời gian tắm, thì thời gian trong nhà vệ sinh thậm chí còn lâu hơn như vậy, nhưng bạn có biết? Phòng tắm là nơi gây ra rủi ro cao nhất trong ngôi nhà.
Trong thực tế, nhà vệ sinh đã trở thành địa điểm có tỷ lệ tử vong cao nhất nơi mà các nhân viên cứu cấp thường ra vào nhiều nhất.

.
1. Đứng dậy đột ngột gây chóng mặt do bệnh tim mạch và mạch máu não cũng do bệnh nhân ngồi xổm trong nhà vệ sinh quá lâu, đứng dậy nhanh chóng sau khi bài dịch có thể gây trào ruột, thiếu máu não, chóng mặt, hoa mắt, té ngã và những người lớn tuổi dễ bị tổn thương. Ngoài ra, bệnh nhân huyết áp cao thì buổi sáng huyết áp sẽ tăng cao hơn, nhiều người có thói quen thức dậy là vào nhà vệ sinh để ruột bài tiết, vì vậy nhà vệ sinh là nơi thường xảy ra tai nạn nhiều nhất.

.
2. Bài tiết dùng lực có khả năng gây đột tử khi khí lực dồn vào đột ngột, cơ bụng và cơ hoành co rút mạnh mẽ, do đó làm tăng áp lực ổ bụng, làm cho huyết áp tăng đột ngột có thể dẫn đến đột quỵ, tiêu thụ oxy của cơ tim tăng đột ngột có thể gây đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và rối loạn nhịp tim, nghiêm trọng hơn có thể gây đột tử.

.
3. Sau khi nín tiểu quá lâu, rồi đi tiểu đột ngột dễ dẫn đến việc ngất xỉu và nghiêm trọng hơn là nguy cơ bị đột tử. Khiến các dây thần kinh phế vị trở nên quá hưng phấn, và bàng quang bài quá nhanh, máu thông xuống, khiến tụt huyết áp, co thắt nhịp tim, suy não, và gây ra tiểu tiện ngất. Sau khi ngất, nếu bệnh nhân không được điều trị y tế kịp thời có thể đe dọa tính mạng.

.
4. Độ ẩm khi ở trong nhà tắm quá lâu ảnh hưởng đến não do đó khi vào nhà tắm nên mở quạt hút. Hơn nữa cũng nên hạn chế thời gian trong nhà vệ sinh, dễ gây thiếu oxy cho não và tim.

.
5. Nước lênh láng sàn gạch trơn tạo điều kiện khiến cho người ta dễ bị trượt ngã nhất ở nhà vệ sinh. Nếu bạn vô tình bị ngã, khó tránh dễ bị gãy xương và các trường hợp nguy hiểm khác, người già mắc bệnh tim, một khi bị ngã dễ gây đau thắt ngực, cần phải ngay lập tức đến bệnh viện để cấp cứu.

.
6. Đồ gia dụng trong nhà vệ sinh khá nhiều, cũng gây ra nhiều nguy cơ. Nếu phòng vệ sinh không thông gió tốt, việc sử dụng máy nước nóng nhiều khả năng gây ngộ độc khí. Không ít những bài báo đã từng nói về điều này …

.
7. Mọi người thực sự hãy nên chú ý! Tuyệt đối đừng nín tiểu! Không có việc gì đáng gấp rút hơn việc này! Đặc biệt trước khi đi ngủ phải đi vệ sinh luôn nhé, đừng nín tiểu để rồi hậu quả khó lường!

Nguồn từ email của Cuong P Tong 18/12/2016

Bác sĩ NGUYỄN THỂ BÌNH, Hung Thần của Trọng Lú

Bác sĩ NGUYỄN THỂ BÌNH

Bác sĩ NGUYỄN THỂ BÌNH là một nữ lưu mà VC Nguyễn Phú Trọng đã đặc biệt kinh hãi NHẤT, sợ phải bị gặp mặt NHẤT, cũng như sợ NHẤT sẽ phải ngậm đắng lặng câm á khẩu trước các câu hỏi về hiện tình đất nước Việt của bà, nhân lần y qua Mỹ trong tháng 7 năm 2015, sợ đến mức mà y đã phải yêu cầu tổ hợp Center for Strategic and International Studies CSIS KHÔNG để cho bà vào tham dự buổi họp báo của y tại trụ sở của họ, đến mức đã phải dùng nhân viên an ninh hộ tống bà ra về cho chắc ăn, khi khám phá ra là bà đã có mặt trong trụ sở Trung Tâm, dù bà là một vị khách mời danh dự của Trung Tâm! (Và lại tái diễn chuyện BUỒN xử sự của cái anh bạn Mỹ chỉ sống vì $$$, khi CSIS đã cúi mặt làm theo LỆNH của cái tên VC mà nay đang vung tiền (xương máu của người DÂN), ngay tại cái xứ Mỹ gọi là Tự Do Dân Chủ Muôn Năm này!

(Xem thêm tại:

Rushford #6: VC Mua Ảnh Hưởng của Mỹ

https://lehung14.wordpress.com/linh-tinh-miscellaneous/rushford-6-vc-mua-anh-huong-cua-my/

Rushford #7: Kiểm Lại: “Di sản” Chuyến Thăm VN của Obama

https://lehung14.wordpress.com/linh-tinh-miscellaneous/rushford-7-di-san-chuyen-tham-vn-cua-obama/ )

SBTN phỏng vấn BS Bình tại Toronto Tháng 9 Năm 2014

https://www.youtube.com/watch?v=N8xigQUnClQ

*****

Sưu tầm, soạn và chuyển ngữ bởi:

Lê Bá Hùng

Windsor, Ontario, Canada

https://lehung14.wordpress.com/

https://lehung14.wordpress.com/about/

https://vietenglishtranslation.wordpress.com/

 image003

 Bác sĩ NGUYỄN THỂ BÌNH

http://www.asianfortunenews.com/site/article_0811.php?article_id=6

image006

 Bà Nguyễn Thể Bình Kế Nhiệm trong Chức vụ Chủ Tịch

Ủy Ban Cố Vấn về Á Châu của Tiểu Bang Virginia

~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

By (Bài của) : Jennie Ilustre

Bác sĩ Nguyễn Thể Bình luôn luôn bận rộn với công việc hàng ngày dù đã lập gia đình và có hai con. Nhưng việc đó cũng đã không hề ngăn cản bà ta, hầu có thể  phục vụ trong nhiều tổ chức tình nguyện và vận động, cũng như trong các ủy ban của tiểu bang, kể cả các hội đồng tiểu bang, kể luôn cả chức vụ từng được cựu Thống đốc Tim Kaine bổ nhiệm vào Ủy Ban Cố Vấn về Á Châu của Virginia (VAAB), nơi bà đã lên làm Chủ tịch từ năm 2010. Gần đây, bà cũng đã được Thống đốc Bob McDonnell bổ nhiệm vào Hội đồng Cố Vấn về Phóng Xạ của Virginia.

Dưới sự lãnh đạo của Bác Sĩ Nguyễn Thể Bình, Ủy Ban VAAB đã tổ chức những cuộc họp tại trụ sở hội đồng thị xã ở nhiều vùng khác nhau, hầu thu thập dữ liệu, và cộng tác với văn phòng địa phương về cuộc Tổng điều tra Dân số năm 2010, cùng tạo điều kiện cho các lần hội hợp ở Richmond về những vấn đề lập pháp, hay nhắc nhở các thành viên của Đại Hội Đồng khi họ họp, và phối hợp với các hiệp hội người Mỹ gốc Á khác, để tổ chức buổi Tiếp Tân Tân Niên hàng năm cho Đại Hội Đồng và văn phòng của Thống đốc McDonnell, và đó chỉ là một phần trong số nhiều công tác khác mà bà đã hoàn thành.           

VAAB cũng đã thành công hợp tác trong các lần cùng đứng ra thực hiện chung với các tổ chức y tế và chuyên ngành của người Mỹ gốc Á khác, để cùng phối họp điều động các buổi giúp tìm việc làm, hay tìm hiểu về sức khỏe, các buổi hội thảo và các lần họp để tiếp xúc hay có tính cách đa dạng hơn, với Đại học Virginia Tech, cũng như là bao buổi tổ chức khác.

Tới thứ bảy 7 tháng 8, một Hội chợ Y tế sẽ khai trương tại khuôn viên trường Cao đẳng NOVA Annandale từ 9 giờ sáng cho tới 2 giờ chiều. BS Bình tuyên bố, “Health Fair ~ Hội chợ Y tế”, do Hiệp Hội Y Sĩ Việt Nam vùng Đông Bắc Mỹ ~ Vietnamese Medical Society of Northeast America (VMSNA) và các tổ chức khác trong cộng đồng chung nhau sắp đặt, chính là một trong những sự kiện quan trọng ở Bắc Virginia, mà mục đích là nhằm phục vụ hơn cả một ngàn người trong chỉ vỏn vẹn có một ngày hoạt động mà thôi”.           

Tới ngày 11 tháng 8, Tổ hợp Giúp đở Phát triển Kinh doanh ~ Business Development Assistance Group (BDAG), một tổ chức vô vị lợi ở Virginia do Đổ Tọa ▼2 lãnh đạo, sẽ tổ chức một buổi hội thảo, với tên gọi là “Mở rộng xuất cảng của Virginia qua Hàn Quốc trong năm 2011”. Hội thảo này là một phần trong những sáng kiến của BS Nguyễn Thể Bình qua VAAB, để thúc đẩy phát triển nền thương mại và đầu tư quốc tế tới cho tiểu bang Virginia.          

Chủ tịch của BDAG là Đổ Tọa ▼2 thì cũng đã từng ca ngợi tài lãnh đạo và quyết tâm của BS Nguyễn Thể Bình. Trong một cuộc phỏng vấn ngắn, ông có nói, “Bà ta đối xử với tất cả mọi người trong một tinh thần tôn trọng, mà đó cũng là điều không ai có thể chối cải là cách tốt nhất để được mọi người cùng hợp tác và ủng hộ. Bà ta có một sự hiểu biết sâu sắc về các vấn đề, từ mọi khía cạnh, và điều quan trọng không kém, bà ta cũng có một khả năng đặc biệt, để đưa mọi người đến được một sự đồng thuận trong các vấn đề rất ư là nan giải”.           

Điều gì đã khiến BS Bình, cũng như là bao người khác như bà, mong muốn đền ơn lại xã hội? Bà ta có giải thích về bản tính mình và gọi là, “các khát vọng và thành tựu của tôi” trong một cuộc phỏng vấn qua điện thư.           

“Tôi từng được sinh ra ở Việt Nam, đã trải qua thời kỳ thơ ấu ở châu Âu, để rồi vào học trung học tại Hoa Kỳ”, bà đã bắt đầu, để mô tả một cuộc hành trình thật là đặc biệt lạ lung, của một người dân, trên cái thế giới này. “Quả là tuyệt vời khi mà ta lại có được cơ hội để sống trong cả ba lục địa khác nhau, hầu quan sát và sống thật những nền văn hóa khác nhau, hay được học nhiều ngôn ngữ, để tiếp thu được một số vốn kiến thức rộng lớn và gặp được bao người với nguồn gốc dị biệt”.           

Ở cái đất nước mà bây giờ bà ta gọi được là nhà, bà cũng đã thành công được trong một ngành nghề cao quý. Bác sĩ Nguyễn Thị Bình là Trưởng Khu Quang Tuyến về Lồng Ngực ~ Thoracic Radiology Section, thuộc Ban Quang Tuyến ~ Department of Radiology , tại Quân y viện Walter Reed ở thủ đô quốc gia.

Bà là giáo sư phụ giảng về Quang Tuyến X tại Johns Hopkins Medical Institutions và tại Bệnh viện của Đại học Pennsylvania, nguyên là hai trong số các định chế giáo dục có uy tín vào hàng đầu. Hiện nay, bà là giáo sư phụ giảng về Quang Tuyến X tại Uniformed Services of the University of the Health Sciences.

Bà đã đang huấn luyện cho rất nhiều chuyên viên quang tuyến X tương lai trong suốt hơn một thập niên, kể cả chuyên viên quang tuyến X quân sự, trong bảy năm qua. Bà cũng đã thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu. Bà từng đồng viết nhiều bản đúc kết y khoa trong các lãnh vực những căn bệnh về phổi và tim, và cũng đã được trao cho một giải thưởng về một chương trình nghiên cứu thực hiện ngay trong thời ký còn là nội trú y khoa về quang tuyến X.

Bác sĩ Nguyễn Thể Bình đã hoàn tất học bổng Quang Tuyến về Lồng Ngực ~ Thoracic Radiology tại Đại học Pennsylvania. Trước đó, bà đã tốt nghiệp hạng magna cum laude  với bằng Cử nhân Sinh Hóa.

Khi mới chỉ còn là sinh viên, bà cũng từng đã được nhiều hiệp hội nổi danh ghi nhận rồi, cũng như là sau đó, đã được bầu làm hội viên của Phi Beta Kappa  ►1 và cũng đã nhận được nhiều học bổng trong suốt những năm học cử nhân thuộc General Honors Program (Chương trình Danh Dự Đại Cương) ở  Đại học Maryland. Sau đó, trong năm thứ hai sinh viên y khoa, Bà đã từng đắc cử chức Chủ tịch của Phân bộ Sinh viên Y khoa, thuộc Hiệp hội Y khoa Mỹ (AMA), và đã được AMA trao tặng một giải thưởng danh dự. 

Tường Trình VAAB

Vào năm 2009, Bác sĩ Nguyễn Thể Bình đã được Thống Đốc Tim Kaine bổ nhiệm vào làm việc trong Ủy Ban Cố vấn về Châu Á của Tiểu bang Virginia (Vỉginia Asian Advisory Board ~ VAAB). Kể từ năm 2010, sau khi trở thành chủ tịch của VAAB, bà đã lãnh đạo ủy ban một cách gương mẫu, qua nét dấn thân cống hiến của bà, và nhờ nắm vững được toàn bộ chủ đề, kể luôn cả mọi sắc thái của nó, và cũng nhờ cái tư cách cực kỳ lịch sự của bà.     

Bà có cho biết là “Bản Tường Trình của VAAB sẽ được đệ trình lên Thống đốc McDonnell ngày rất gần đây. Đó sẽ là thành tựu có ý nghĩa nhất của VAAB trong nhiệm kỳ làm Chủ tịch của tôi”.           

Bác sĩ Nguyễn Thể Bình có cho biết, nhân cuộc họp hàng tam cá nguyệt của VAAB được tổ chức vào ngày 1 tháng 7 vừa rồi tại Richmond, là đã có những  khách mời quan trọng tới thuyết trình về các chủ đề trọng tâm mà sẽ được nêu lên trong bản tường trình của VAAB.

“Luật sư Emily Sumner của tổ hợp luật sư Challa ở Richmond, thì thảo luận về đề tài nhập cư ở Virginia, đặc biệt là liên quan đến công ăn việc làm và kinh tế”, bà đã nhấn mạnh như vậy. Còn “Jay Chen, giám đốc báo Asian Fortune, thì nói về sự thành công mỹ mãn mới đây của Asian Fortune Job Fair (Buổi Cơ Hội Tìm Việc làm cho Người Á châu)”. Bà nói thêm là Cơ quan Business Development Agency BDA và cộng đồng người Mỹ gốc Hàn tại NOVA, cũng đã có thuyết trình về những nỗ lực từng rất thành công trong vài năm qua,.           

Bà đã nói thêm: ” Đổ Tọa ►2, Chủ tịch của BDA có trình bày trước về Hội nghị  Xuất Cảng Thương Mại qua Đại Hàn sắp tới, và đó cũng là một trong những lãnh vực chính được đạt trọng tâm trong bản tường trình của VAAB, mà có liên quan đến giao thương quốc tế và việc đầu tư của ngoại quốc tại Virginia. Ting-Ye On, Chủ tịch của Coalition of Asian Pacific Americans of Virginia CAPAVA (Liên Minh Các Người Mỹ gốc Á tại Virginia), thì đã thuyết trình về nỗ lực của cộng đồng người Mỹ gốc Á nhằm cộng tác với Đại hội đồng về các vấn đề lập pháp “.

Bác sĩ Bình cho biết buổi họp hàng tam cá nguyệt của VAAB “đã khá thành công, với sự hiện diện của Bộ trưởng Thương mại và Giao thương tiểu bang Virginia là Jim Cheng, cùng vị Phụ Tá Bộ trưởng là Jimmy Rhee, người đã đứng ra nhận bản tường trình của VAAB”.           

Bà đã cho biết là cả hai viên chức Bộ Thương mại và Giao thương cũng đã thông báo cho VAAB biết về chuyến đi rất thành công của Thống đốc McDonnell qua châu Á, mà họ cũng đã có tháp tùng theo. Bà bổ túc, “Cuộc trao đổi giữa Bộ trưởng Cheng và vị Phụ Tá Rhee với VAAB thì rất là thẳng thắn, đầy tính cách xây dựng và cùng có lợi, do được tiến hành trên một nỗ lực hợp tác liên tục hầu giải quyết các vấn đề quan trọng, đối với chính quyền và cả với các cộng đồng người Mỹ gốc Á trong Khối thịnh vượng chung”.

Đề Tài Nhân Quyền

Đúng vậy, quả Bác sĩ Bình đã thực sự thực hiện được nhiều điều, chớ không phải chỉ một việc mà thôi. Nhưng bà đã không hề bỏ quên quê hương của bà, và do đó, đã là một tấm gương đặc biệt, qua cung cách tham dự của bà vào các vấn đề nhân quyền tại Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.           

Ý thức sâu sắc về nghĩa vụ công dân và trách nhiệm đối với cộng đồng của bà thì cũng đã bắt đầu ngay khi bà vẫn chỉ mới là một sinh viên mà thôi. “Các công việc của tôi mà có tính cách tình nguyện và công dân vụ thì cũng đã bắt đầu ngay từ thời còn học trung học và đại học rồi”, bà có cho biết như vậy.          

Nhận thức cho được về trách nhiệm công dân, cùng với khả năng nắm vững làm sao tận dụng cho được thì giờ mình đang có, đã trở thành một thói quen trọn đời mà thôi. “Công việc nghề nghiệp, rồi cuộc sống gia đình và các trách nhiệm công dân, cùng đòi hỏi một sự cân bằng tuyệt hảo giữa, nào là thu xếp thì giờ, đặt thứ tự ưu tiên, rồi nào là sức khỏe và niềm đam mê”, bà đã có nhận xét như vậy.

Bà nói thêm: “Cái di sản gốc châu Á, hoặc là từ Việt Nam như trong trường hợp của tôi, hoặc từ một khu vực khác nào đó của châu Á, thì luôn luôn nhấn mạnh vào đức tính chăm chỉ, tận tâm, kiên trì, ưu tiên hóa tiềm năng, luôn tạo ra cơ hội, giúp đỡ gia đình cùng bè bạn và đền đáp lại phần nào cho cộng đồng“.

Trong những năm gần đây, Bác sĩ Nguyễn Thể Bình đã là chủ tịch của Ủy ban Quốc tế để Hỗ trợ cho Phong trào Bất bạo động Đòi hỏi Nhân quyền tại Việt Nam và cũng là phát ngôn viên của Liên minh Nhân quyền ở châu Á, và rốt cuộc, đã  chuyển tiếp và sáp nhập các tổ chức này để cùng làm việc cho một mục tiêu chung tại trang trên Liên Mạng tên là  www.Rallyfordemocracy.orgNational Endowment for Democracy (Quỹ Quốc gia vì Dân chủ) đang ủng hộ giúp đở. Bà đã có vai trò chính yếu trong việc tổ chức các sinh hoạt với các tổ chức Việt Mỹ khác nhau và trong việc cộng tác với các tổ chức thuộc nhiều quốc gia ở châu Á.

Vào đầu năm 2009, Bác sĩ Bình có tổ chức một phong trào quy mô nhằm kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ nhập cuộc, qua các phiên điều trần trước Quốc hội và các buổi thuyết trình thuộc Bộ Ngoại giao, cũng như là các cuộc gặp gở tại các Tòa Đại sứ Âu châu để yêu cầu họ hỗ trợ tiến trình kiểm soát về các thành tích nhân quyền của Chính phủ Cộng sản Việt, nhân dịp tới kỳ United Nations Periodic Review ~ UNPR  (Kiểm Tra Định Kỳ của Liên Hiệp Quốc) về Việt Nam bởi Hội đồng Nhân quyền LHQ (UNHRC).

Sau đó thì bà đã hướng dẫn một liên minh người Việt hải ngoại đi gặp các giới chức của Chính phủ Pháp tại Ba-lê, để yêu cầu họ hỗ trợ về vấn đề này trong những ngày trước khi xẩy ra vụ UNPR, và sau đó, cũng đã tham dự cuộc họp của UNPR tại Geneva vào đúng ngày UNHRC tái duyệt xét Việt Nam trong tháng 5 năm 2009.

Bác sĩ Bình đang cộng tác chặt chẽ với các tổ chức quốc tế. Trong số đó thì có Human Rights Watch (Tổ chức theo dõi về Nhân quyền) , Amnesty International  (Tổ chức Ân xá Quốc tế), Freedom Now (Tổ chức Phải Tự Do) và Robert F. Kennedy Foundation (Tổ chức Robert F. Kennedy) để giám sát các vụ vi phạm và lạm dụng về nhân quyền, đặc biệt là ở Việt Nam. Bà vẫn thường xuyên được mời để tham khảo quan điểm bởi Quốc hội Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và The American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations AFL-CIO (Liên đoàn Công nhân Mỹ và Hội đoàn các Hãng xưởng Mỹ) như một chuyên gia về các vấn đề nhân quyền ở châu Á.

*****

Nói chung, 3 tiêu chuẩn ban khen bằng tiếng La-tinh do các đại học Mỹ áp dụng vầ cũng có tính cách du di, tùy từng trường, chớ không nhất thiết là trình độ cùng phải như nhau.

http://www.investopedia.com/ask/answers/032415/what-difference-between-magnum-cum-laude-and-summa-cum-laude.asp

Summa cum laude = “with highest honor” = “cực tối ưu”

Magna cum laude = “with great honor” = “tối ưu”

Cum Laude = “with honor” = “ưu hạng”

►1

http://www.merriam-webster.com/dictionary/Phi%20Beta%20Kappa

Phi Beta Kappa = Người từng được ghi nhận là lỗi lạc ở cấp đại học Hoa Kỳ mà sau đó, đã được bầu vô Hội Phi Beta Kappa (mà hội viênđều được xem như là niềm Vinh Dự Quốc gia), thành lập từ năm 1776.

▼2

Nguyên bản Anh ngữ là “Toa Do”.

►3

Tất cả các hình cùng phụ chú là của người chuyển ngữ sưu tầm.

Tất cả các đoạn nhấn mạnh màu XANH cũng là của người chuyển ngữ phụ thêm.

*****

Bác Sĩ Nguyễn Thể Bình đắc cử chức vụ Chủ tịch Hội đồng cố vấn Á châu

http://vietinfo.eu/viet-nam-que-huong/bac-si-nguyen-the-binh-dac-cu-chuc-vu-chu-tich-hoi-dong-co-v%E1%BA%A5n-a-chau.html

Cập nhật lúc 18-06-2010 16:30:09 (GMT+1)

Bác sĩ Nguyễn Thể Bình, một nhân vật hoạt động tích cực trong các lãnh vực xã hội, y tế, văn hóa, giáo dục và nhân quyền của cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu, đặc biệt là cộng đồng người Mỹ gốc Việt, vừa được vinh dự đắc cử chức vụ Chủ Tịch của Hội Đồng Cố Vấn Á Châu cho Thống Đốc Tiểu Bang Virginia (Virginia Asia Advisory Board), viết tắt là VAAB.

Theo bản tin cộng đồng ngày 29 tháng 5 năm 2010, một buổi họp đặc biệt để bầu thành phần lãnh đạo của Hội Đồng Cố Vấn Á Châu cho nhiệm kỳ mới đã được triệu tập vào lúc 10 giờ sáng ngày thứ Sáu 21 tháng 5 năm 2010 tại Mason Dỉstrict Government Center, quận Fairfax. Buổi họp được đặt dưới sự chủ tọa của ông Thứ Trưởng Bộ Thương Mại Tiểu Bang Virginia Jimmy Rhee, đại diện cho Thống Đốc Bob McDonnell và với sự tham dự của 4 dân biểu Tiểu Bang Virginia: Mark Keam, Kate Kory, Vivian Watt và Barbara Constock.

Bác Sĩ Bình đã được Ông Andrew Ko, một viên chức cao cấp của công ty Microsoft và là Ủy Viên của Hội Đồng đề cử và sau đó đã được các thành viên của hội đồng tín nhiệm vào chức vụ Chủ Tịch.

Được biết Hội Đồng Cố Vấn Á Châu đã được thành lập năm 2001 do sắc lệnh của cựu Thống Đốc Mark Warner, hiện là Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ. Sau đó vào năm 2003, Quốc Hội Tiểu Bang Virginia đã ban hành bằng đạo luật chính thức thiết lập Hội Đồng này (Virginia Code 2.2-2448) quy định thẩm quyền và trách nhiệm của Hội Đồng Cố Vấn như sau:

“Nhiệm vụ của Hội Đồng Cố Vấn Á Châu là Cố Vấn cho Thống Đốc Tiểu Bang Virginia về những phương cách nhằm cải tiến mối quan hệ về kinh tế và văn hóa giữa Tiểu Bang Virginia và các quốc gia Á Châu, đặt trọng tâm vào các vấn đề thương mại, giao thương buôn bán, văn hóa giáo dục và các liên hệ tổng quát giữa các chính quyền với nhau. Đồng thời, Hội Đồng cũng sẽ cố vấn các vấn đề liên quan đến đời sống của cộng Đồng gốc Á Châu trong Tiểu Bang”.

Bác Sĩ Bình, hiện là Trưởng Khu Quang Tuyến về Lồng Ngực (Thoracic Radiology) bệnh viện Lục Quân Hoa Kỳ ( Walter Reed Army Hospital).

Ngoài trách nhiệm chuyên môn, BS Bình còn là thành viên sáng lập của Liên Minh cho dân chủ và nhân quyền Á Châu. BS Bình cũng là thành viên cốt cán của Tổ Chức Quốc Tế Yểm trợ Cao Trào Nhân Bản. ► Mới đây trong chức vụ đồng Chủ Tịch của buổi lễ kỷ niệm năm thứ 16 Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam, BS Bình đã đóng góp rất nhiều cho buổi lễ, đặc biệt trong việc điều hợp thành công buổi hội thảo: “Tự do Internet tại Á Châu”.

Xin chúc mừng BS Thể Bình trong chức vụ mới, ước mong BS Bình sẽ là một gạch nối giữa ông Thống Đốc và các cộng người Mỹ gốc Á Châu và với kinh nghiệm sẵn có, BS Bình sẽ có những cố vấn xây dựng cho ông Thống Đốc để mang lại phúc lợi cho các sắc dân Á Châu trong tiểu bang Virginia.

Theo CongdongnguoiViet

VietInfo Group, Liên hệ gửi bài: BBT@vietinfo.eu

 Liên hệ quảng cáo: quangcao@vietinfo.eu

Tel.:+420 775 786 677 (chỉ liên hệ quảng cáo)

***** 

Toàn đoạn nhấn mạnh màu XANH là của người chuyển ngữ.

  *****

Bài phát biểu của Bác sĩ Nguyễn Thể Bình

 tại Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do kỳ VII Toronto,

Canada 11 tới 14 tháng 8 năm 2011

http://www.sacei07.org/youth_civic.html

Binh Nguyen, M.D.

Civic Activism

In VN the citizens do not have freedom, democracy and human rights. In VN there are no check and balance of the three branches of the government. Civic activism or community involvement is not synonymous with politics. Awareness, willingness and responsibility are not a burden but a privilege. Working together for a democratic government in VN, free and humane society and protect the basic human rights of the Vietnamese.

We represent a transition generation. Our responsibility is to preserve the heritage of the previous generation, to develop upon this foundation, and to enhance the potential and success of the next generation.

         Binh Nguyen August 11, 2011

Bác sĩ Y Khoa Nguyễn Thể Bình,

Nhà Hoạt Động về Nhân Quyền

Ở Việt Nam, các công dân không có được tự do, dân chủ và nhân quyền. Ở Việt Nam, không hề có được cái đặc tính kiểm soát và cân bằng lẫn nhau của ba ngành trong chính phủ. Hoạt động về nhân quyền hay tham gia sinh hoạt cộng đồng không phải là làm chính trị. Nhận thức, ý chí và trách nhiệm đều không là bổn phận, mà lại là một đặc ân. Chúng ta hãy cùng nhau hoạt động hầu đưa đến được một chính quyền dân chủ ở VN, để đến được một xã hội tự do và nhân đạo, cùng bảo vệ các nhân quyền căn bản cho người dân Việt Nam.

Chúng tôi đại diện cho một thế hệ chuyển tiếp. Trách nhiệm của chúng tôi là bảo tồn di sản của thế hệ trước, hầu phát triển trên nền tảng đó, và giúp nâng cao tiềm năng cùng khả năng thành công của thế hệ tiếp theo.

          Nguyễn Thể Bình, 11 Tháng 8 Năm 2011

Giới thiệu Bác sĩ NGUYỄN THỂ BÌNH

Bác sĩ Nguyễn Thể Bình đã từng được bổ nhiệm làm Giảng sư Phụ tá về Quang tuyến X cho những tổ chức y tế rất có uy tín như Tổ chức Y tế Johns Hopkins, Bệnh viện Đại học Pennsylvania, và hiện đang dạy tại Phân khoa Uniformed Services of the University of the Health Sciences.

Bác sĩ Bình đã từng là Trưởng Khu Quang tuyến về Lòng ngực thuộc Ban Quang tuyến tại Trung tâm Quân y Walter Reed, Washington, D.C.. Kể từ khi hoàn tất chương trình học bổng Quang tuyến về Lòng ngực tại Đại học Pennsylvania, Bác sĩ Bình đã làm việc trong các tổ chức giáo dục hàng đầu và đào tạo được nhiều bác sĩ chuyên viên về Quang tuyến suốt trong hơn mười năm trời, kể cả các bác sĩ quân y về Quang tuyến X trong vòng bảy năm qua. Ngoài ra, Bác sĩ Bình hiện đang thường xuyên giảng dạy cho sinh viên những môn chính yếu thuộc chương trình quy định bởi đại học y khoa.

Bác sĩ Bình đã xúc tiến nhiều cuộc nghiên cứu và là đồng tác giả của nhiều bài nghiên cứu y khoa thuộc lãnh vực các bệnh về phổi và tim, và đã từng được trao thưởng cho một chương trình nghiên cứu mà bà đã thực hiện ngay trong thời gian còn là sinh viên nội trú y khoa về quang tuyến. Trong năm thứ hai sinh viên y khoa, Bà đã từng đắc cử chức Chủ tịch của Phân bộ Sinh viên Y khoa  thuộc Hiệp hội Y khoa Mỹ (AMA), và đã được AMA trao tặng một giải thưởng danh dự. 

Bà đã tốt nghiệp Cử nhân Sinh Hóa với Magna Cum Laude và cũng đã được công nhận bởi rất nhiều hiệp hội danh dự kể cả Phi Beta Kappa, cùng từng nhận được nhiều học bổng ngay trong bốn năm sinh viên cấp cử nhân thuộc General Honors Program (Chương trình Danh Dự Đại Cương) ở  Đại học Maryland, College Park.

Hiện nay, Bác sĩ Nguyễn Thể Bình là phát ngôn viên của tổ chức tại www.RallyforDemocracy.org, một tổ chức vô vị lợi chuyên chú về nhân quyền cùng các giá trị dân chủ liên quan đến khu vực Đông Nam Á, cũng như là cộng tác với các tổ chức quốc tế về nhân quyền và về dân chủ, cũng như cùng các nhà hoạt động dấn thân cho các mục tiêu đó. Bác sĩ Bình đã từng phục vụ trong tư cách Chủ tịch của Ủy ban Quốc tế Hỗ trợ cho Phong trào Bất bạo động cho Nhân quyền tại Việt Nam từ năm 2007 tới 2010 và là phát ngôn viên của Liên minh cho Nhân quyền ở Á châu trong cùng thời kỳ. Bà cũng là Chủ tịch kiêm thành viên sáng lập của Tổ chức Quốc tế Bảo vệ cho các Tù nhân vì Lương tâm. 

Bác sĩ Bình đã từng là khách mời thường xuyên của Quốc hội Mỹ, Bộ Ngoại giao Mỹ và Liên đoàn Công nhân Mỹ và Hội đoàn các Hãng xưởng Mỹ AFL-CIO, cũng như bởi cả các tổ hợp nghiên cứu lưỡng đảng, trong tư cách chuyên gia về chủ đề các nhân quyền ở châu Á, đặc biệt là ở Việt Nam. Bác sĩ Bình đang cộng tác chặt chẽ với các tổ chức quốc tế như Human Rights Watch, Amnesty International, Freedom Now, Robert F. Kennedy Foundation, Heritage Foundation, Reporters Without Borders, và đó chỉ là kể sơ qua mà thôi, để theo dõi mọi vi phạm và lạm dụng về nhân quyền, đặc biệt là tại ngay Việt Nam.

Năm 2009, Bác sĩ Bình đã đứng ra tổ chức một phong trào quy mô để kêu gọi Chính phủ Mỹ, bằng cách thông qua các phiên điều trần trước Quốc hội và các lần thuyết trình tại Bộ Ngoại giao, cũng như qua các cuộc họp tại các Tòa Đại sứ của những quốc gia Âu châu, để thúc giục họ hỗ trợ trong công tác kiểm soát lại các hồ sơ về nhân quyền của Chính phủ Cộng sản Việt vào dịp Liên Hiệp Quốc đánh giá Định kỳ (UNPR) về Việt Nam qua Hội đồng Nhân quyền LHQ (UNHRC). Sau đó bà đã hướng dẫn một liên minh các người Việt hải ngoại đến Ba-lê gặp các giới chức trong Chính phủ Pháp, để yêu cầu họ ủng hộ về đề tài này, nhân những ngày sắp xẩy ra việc Đánh gia Định kỳ UNPR, và sau đó có tham dự cuộc họp về UNPR tại Geneva vào ngày UNHRC cứu xét về trường hợp Việt Nam, tức là vào ngày 8 tháng 5 năm 2009.

Các công tác tình nguyện công dân vụ của Bác sĩ Bình thì cũng đã bắt đầu ngay từ thời bà còn đang học trung học và luôn sau đó, thì cả tại đại học, và đã cho thấy thật là rõ rang, một thành tích về thi hành nghĩa vụ công dân và chịu nhận trách nhiệm trước cộng đồng, ngoài một quá trình làm việc uyên thâm xuất sắc, cũng như là nghiên cứu hàn lâm ngay từ những năm tại đại học của bà.

Sau khi được bổ nhiệm bởi Thống đốc Timothy Kaine trong năm 2009 vào Hội đồng Cố vấn về Châu Á của tiểu bang Virginia (VAAB), Bác sĩ Nguyễn Thể Bình đã được bầu làm Chủ tịch Hội đồng VAAB trong tháng 5 năm 2010. Mới đây, Bác sĩ Bình lại đã được bổ nhiệm bởi Thống đốc Bob McDonnell vô Hội đồng Cố vấn về Phóng Xạ của Virginia vào năm 2011.

Bác sĩ Bình đã rất tích cực hoạt động cho Ủy ban VAAB và đã phối hợp với nhiều tổ chức ngành nghề Á Châu trong toàn khối thịnh vượng chung, để tổ chức, nào là các buổi họp rất thành công tại tòa thị chính, rồi nào là cuộc tụ hợp tại Đại Hội Đồng, hay những buổi tiệc hàng năm với Thống đốc và Phó Thống đốc tiểu bang Virginia, cũng như là hầu hết mọi tường trình của VAAB từng được gởi đến văn phòng của Thống đốc Tiểu bang. Hội đồng VAAB, dưới sự lãnh đạo của Bác sĩ Nguyễn Thể Bình, đã hợp tác với nhiều tổ chức Á châu khác, nhân những buổi tổ chức cộng đồng, kể cả các lần tiếp xúc tìm việc làm, hay về về đề tài sức khỏe nhằm phục vụ cho vùng đô thị ở phía Bắc Virginia. Rồi trong khả năng kia của bà như là cố vấn cho Hội đồng Phóng xạ, bà cũng đã cung cấp được khả năng chuyên môn về y tế của bà hầu giúp cho ủy ban cố vấn.

*****

Bài phát biểu của Bác sĩ Nguyễn Thể Bình

 tại Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do

 kỳ VII Toronto, Canada 11 tới 14 tháng 8 năm 2011

image008
Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear

Bác sĩ Nguyễn Thể Bình

image010
Bác sĩ Nguyễn Thể Bình phát biểu trong lễ khai mạc

Đại Hội Y Nha Dược Toronto, Canada

 *****

Kính thưa Ban Tổ chức,

Kính thưa quý vị Giáo sư, các Khoa học gia, các Nhà nghiên cứu,

Kính thưa quý Đồng nghiệp và Quan khách,

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ Ban Tổ chức đã có nhã ý mời chúng tôi phát biểu đôi lời trong  ngày khai mạc chương trình của đại hội Y Nha Dược năm 2011 tại Toronto.  Trong đại hội này, chúng tôi sẽ có cơ hội để học hỏi, trao đổi với quý đồng nghiệp, đồng thời sẽ đón nhận sự hướng dẫn và chỉ dạy của các thầy cô và các bậc đàn anh, đàn chị trong nghề. Trong mấy phút hàn huyên tâm tình tới đây, chúng tôi xin phép chia sẻ cùng quý vị những tư duy (suy nghĩ) của chúng tôi về ý thức, tinh thần và trách nhiệm của giới Y Nha Dược chúng ta ở hải ngoại đối với hiện tình đất nước VN.

Thưa quý vị, chúng ta hãy cùng hướng về tiêu đề ý thức.

(Let’s discuss about our collective awareness of Vietnam)

Mỗi chúng ta có một  nhận định riêng về hiện tình VN, dựa trên hoàn cảnh và kinh nghiệm cá nhân. Nhưng có lẽ chúng ta đều có thể chia sẻ một số điểm quan trọng chính yếu như sau:

  • Chính quyền Hà Nội là một chế độ cộng sản, độc tài, tham nhũng
  • Xã hội VN có khoảng cách giàu nghèo càng lúc càng gia tăng, với đại đa số dân chúng nghèo túng, nạn thất nghiệp tràn lan
  • Nền kinh tế VN suy thoái, hệ thống giáo dục lạc hậu, bế tắc, văn hóa suy đồi, hệ thống y tế bất công và không hiệu quả
  • Người dân VN thiếu tự do, dân chủ và nhân quyền.

(In VN the citizens do not have freedom, democracy and human rights)

Ở một quốc gia dân chủ, Hiến pháp quy định sự độc lập và phân quyền giữa 3 ngành Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp. Ý kiến của dân sẽ được diễn đạt qua Lập Pháp tạo ra đường hướng của quốc gia, Hành Pháp thi hành các chính sách ích quốc lợi dân, Tư Pháp sẽ bảo vệ những quyền lợi chính đáng của dân qua sự xét xử công minh. Ở VN, BChính trị đảng CS chi phối và thao túng cả 3 ngành này; người dân trong sự vận hành chính trị : đảng cử dân bầu với tất cả được sắp đặt từ trước.

(In VN there are no check and balance of the three branches of the government.)

Riêng trong ngành y tế, chính sách của chính quyền Hà Nội đã sai lầm và bất lực, tạo ra những bất công, thiếu thốn và chậm tiến; ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Thế kỷ thứ 21 của nhân loại đã đánh dấu những bước tiến vượt bậc trong lãnh vực y tế. Những căn bệnh hiểm nghèo có thể được khắc chế, và những cách mổ tinh vi ghép tế bào đã là những thành tựu rực rỡ. Trong khi đó ở VN, những điều kiện căn bản nhất như nước uống, vệ sinh, dinh dưỡng và thuốc men tối thiểu đều bị thiếu thốn trầm trọng. Nền y tế ở VN không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Người công dân VN bình thường không được chữa trị theo tiêu chuẩn quốc tế của ngày hôm nay.  Các bệnh nhân nghèo thường thua thiệt và không được hưởng các phương tiện điều trị cần thiết. Giai cấp thiểu số thượng lưu và chức quyền cao thì có các dưỡng đường riêng với giá biểu rất cao và có điều kiện tài chánh để ra ngoại quốc điều trị.

Thưa quý vị, tinh thần dấn thân của 3 thế hệ VN hải ngoại là gì?

(What is our willingness to serve?)

Tại sao giới Y Nha Dược chúng ta phải quan tâm đến hiện tình đất nước?

Chúng ta là những người tỵ nạn, là những người phải di tản ra khỏi quê hương nguồn gốc. Đó là lý lịch, là căn cước chân chính của chúng ta. Khi rời Việt Nam, chúng ta đi tìm một tương lai có sự tự do, có đời sống nhân bản cho chúng ta và thế hệ kế tiếp, với những cơ hội thăng tiến qua giáo dục, làm việc siêng năng trong một xã hội tôn trọng nhân quyền. Qua đó chúng ta đã có một quyết định chính trị. Chúng ta là những người trí thức, là chuyên gia. Chúng ta không nhất thiết phải hoạt động chính trị, nhưng những hành xử trong cuộc sống, được dựa trên sự thông hiểu và cân nhắc, suy nghĩ về chính trị.

(Civic activism or community involvement is not synonymous with politics). 

Chính trị không phải là một căn bệnh nên chúng ta đừng sợ bị truyền nhiễm.  Nhưng chúng ta là những công dân trí thức và có văn hóa.  Gia đình, bạn bè, thầy cô, xã hội đã nuôi nấng, dạy dỗ và bảo bọc chúng ta, để chúng ta có được ngày hôm nay.  Ý thức, tinh thần và trách nhiệm của từng cá nhân chúng ta đối với gia đình và xã hội không phải là gánh nặng, mà là một ân sủng, một sự biệt đãi, là một hân hạnh hoàn trả trong vui thú

(Awareness, willingness and responsibility are not a burden but a privilege).

Lớp trẻ VN hải ngoại đã có những điều kiện ưu tiên so với các bạn quốc nội. Từ những cuộc sống ổn định, qua những cố gắng học hỏi, tìm tòi, cải tiến trong nghề nghiệp với nền giáo dục tối cao, được trang bị kiến thức chuyên môn, có khả năng xuất sắc, các bạn đến từ khắp nơi trên thế giới và đại diện cho thành phần ưu tú của cộng đồng VN hải ngoại mà bản thân tôi rất cảm phục.

Kính thưa quý vị, trách nhiệm của chúng ta là gì?

(What are our responsibilities?)

Là công dân của quốc gia nơi chúng ta cư ngụ nhưng chúng ta cùng có chung một nguồn gốc: Việt Nam; vì thế, sự tranh đấu cho thế hệ đồng song và các lớp người tiếp nối là một bổn phận của mọi người ở mọi nơi . Nhân quyền là điều căn bản cho mọi người ở khắp nơi, người dân tại Việt Nam không có nhân quyền, rất căn bản như cơm no, áo ấm, phát biểu tư tưởng, giáo dục nhân bản, y tế với phòng bệnh và chữa trị. 

Chúng ta, những người sinh sống ở một nước tự do dân chủ, như Canada, Mỹ, Âu châu và Úc châu nghĩ sao nếu ngày hôm nay chúng ta không còn được phát biểu tự do, không được quyền sử dụng lá phiếu một cách chính đáng, không được hành nghề theo đúng lương tâm nghề nghiệp?

Chúng ta có thể làm gì?

(How can we fulfill our responsibilities?)

Tìm hiểu môi trường, nhận xét về hoàn cảnh là những điều chúng ta nên làm để có những dữ kiện và tùy thuộc vào khả năng riêng mà hành động.  Dựa trên hoàn cảnh và khả năng cá nhân, chúng ta đều có thể đóng góp trên nhiều phương diện.  Một trong những điều quan trọng nhất là xây dựng và bồi đắp cho thế hệ trẻ và cộng đồng nơi chúng ta sinh sống. Vì những cộng đồng này là nơi chúng ta lưu lại những di sản và tương lai cho con cháu chúng ta.

(Let’s preserve our heritage and develop our future generation!)

Giáo dục là nền tảng của văn hóa.  Chúng ta bắt đầu từ học đường, từ lớp tuổi ấu thơ qua thiếu niên. Tập luyện thân thể khỏe mạnh cường tráng, giúp cho có trí óc trong sáng minh mẫn. Siêng năng chăm chỉ để đạt được thành công tốt đẹp. Định hướng sự nghiệp về những kiến thức chuyên môn, tạo dựng khả năng cao, tạo cơ hội được tuyển chọn. Ủng hộ và đóng góp cho những chương trình cộng đồng giáo huấn Việt Ngữ có hệ thống, duy trì, phát triển văn hóa Việt.  Phát huy tiềm năng, hướng dẫn nhằm đào tạo những lớp lãnh đạo giỏi dang từ giới thanh niên. Xây dựng, trợ giúp những người gốc Việt có điều kiện thuận lợi và cơ hội khả hữu tham gia vào cơ chế vận hành chính trị dòng chính, từ địa phương cho đến quốc gia, từ quận hạt qua tiểu bang lên liên bang.  Hoạt động với những tổ chức hay mạng lưới đứng đắn trong sáng, bất vụ lợi để tranh đấu và bảo vệ quyền lợi quy định chính đáng của dân Việt định cư tại các quốc gia cũng như ở Việt Nam. Trợ giúp và cộng tác trong những sinh hoạt của các tổ chức trong cộng đồng, tránh không để các ảnh hưởng xấu xâm nhập làm lũng đoạn, phá vỡ sự đoàn kết trong cộng đồng gốc Việt tại hải ngoại.  Xử dụng những ảnh hưởng tạo được vào chính sách kinh tế, đầu tư, doanh thương; đóng góp bằng lá phiếu và tài chánh để có thể đạt được sự ủng hộ của chính quyền địa phương và quốc gia với các mục tiêu của chúng ta .

 image011

Zbigniew Brzezinski

 Chúng tôi xin nhắc lại lời của giáo sư Brzezenski, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Carter, khi nói về sự tranh đấu tại Ba Lan, có bình luận: “Một yếu tố quan trọng góp phần làm chế độ toàn trị áp bức tại Ba Lan sụp đổ mau chóng là sự trình bày của các người Ba Lan ở quốc ngoại, nay có quốc tịch của nhiều nước, khi nói chuyện với bạn bè về nhân quyền thì bạn bè thông cảm hơn, và những người bạn có chức vụ then chốt đã giúp rất nhiều“.

Kính thưa quý vị,

Từ những công tác từ thiện, xã hội, văn hóa và chính trị, chúng ta xây dựng cộng đồng nơi chúng ta sinh sống, và có thể mở rộng kích thước hoạt động về VN.  Chúng ta có thể làm việc theo cách thức cá nhân hoặc với những tổ chức phi chính phủ, nhưng cần tránh không cộng tác, bị ảnh hưởng hay bị chi phối bởi chính quyền Hà Nội.  Chúng ta cần giúp đỡ các cá nhân hay tổ chức quốc nội đã hy sinh to lớn để đóng góp và tranh đấu cho đất nước VN có được nhân quyền căn bản.  Để người dân được hưởng một nền y tế tân tiến, công bằng và đạt tiêu chuẩn quốc tế cũng là một tranh đấu nhân quyền.

Những biến động gần đây tại Bắc Phi, Trung Đông, những thay đổi tại Đông Âu 20 năm trước là những chứng minh về luật động của tạo hóa, khi một chính quyền không phản ảnh ý nguyện người dân, không tạo cơ hội bình đẳng để người dân có cơm no áo ấm, không tôn trọng những nhân quyền căn bản về giáo dục, chính trị, y tế thì sẽ bị đào thải với thời gian, qua sự nổi dậy chống đối mãnh liệt, sẵn sàng hy sinh tính mạng của người dân.  Chúng ta đã chuẩn bị chưa và chẩn bị ra sao, như thế nào khi có những sự thay đổi, sự thay đổi này chỉ là một định luật bất biến của thiên nhiên, đó là sự thay đổi trong cuộc sống để có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có nhân quyền, có các điều kiện về giáo dục, y tế, chính trị trong một xã hội văn minh, tự do và dân chủ.

Kính thưa quý vị, chúng tôi xin phép được chia sẻ những suy nghĩ của thế hệ chúng tôi.

Chúng tôi mong rằng thế hệ đi trước tiếp tục dẫn dắt, chỉ bảo và truyền dạy kiến thức kinh nghiệm.  Chúng tôi đại diện cho thế hệ chuyển tiếp.  Thế hệ chúng tôi cần gìn giữ những di sản của thế hệ trước, kế tục phát huy và phát triển để hội nhập với xã hội địa phương.  Mục đích chính là xây đắp cho thế hệ trẻ VN hải ngoại được vươn cao, đi xa và thành công hơn nữa trong tương lai.

(We represent a transition generation. Our responsibility is to preserve the heritage of the previous generation, to develop upon this foundation, and to enhance the potential and success of the next generation).

Để kết thúc, chúng tôi xin tóm lược lại.  Chủ đích của ý thức, tinh thần dấn thân và trách nhiệm của giới Y Nha Dược hải ngoại đối với đất nước VN gồm có:

  • Không quên nguồn gốc.
  • Gìn giữ kinh nghiệm và kiến thức của thế hệ trước.
  • Trau dồi chuyên môn, bồi đắp khả năng, thăng tiến nghề nghiệp.
  • Phát triển và xây dựng cho thế hệ kế tiếp.
  • Bảo tồn, phát huy truyền thống, văn hóa Việt và xây dựng cộng đồng.
  • Đóng góp vào công cuộc xây dựng một thể chế chính trị dân chủ, tự do và nhân bản trong đó các nhân quyền căn bản của người dân VN được tôn trọng và bảo vệ.

(Working together for a democratic government in VN, free and humane society and protect the basic human rights of the Vietnamese).

Wiston Churchill có nói: “Cao niên có sự suy nghĩ chín chắn, tuổi trẻ có sự hăng say nhiệt thành”. Sự kết hợp của 3 thế hệ chúng ta gồm có kiến thức. kinh nghiệm dấn thân đóng góp và sự hăng say sẽ là viễn kiến, lộ trình cho sự thành công của cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Một lần nữa chúng tôi xin cám ơn Ban Tổ Chức và chúc đại hội Y Nha Dược 2011 thành công rực rỡ.  Rất mong được gặp lại quý vị ngày mai để trao đổi thêm về đề tài phát huy và hội nhập của giới Y Nha Dược ở hải ngoại.

*****

Tất cả các hình cùng phụ chú là của người chuyển ngữ sưu tầm.

Tất cả các đoạn nhấn mạnh màu XANH cũng là của người chuyển ngữ phụ thêm.

*****

Bài phát biểu của BS Nguyễn Thể Bình (Hoa Kỳ)

trong buổi lễ khai mạc Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Việt Nam Tự Do

lần thứ VIII tổ chức tại Melbourne (Tháng 8 Năm 2014)

https://vcavic.net/1501-2/

Kính thưa Phó Thống Đốc (Toàn Quyền) Lê Văn Hiếu ►, Minister of Health Honorable David Davis, quý vị Đồng nghiệp, Thân hữu và Quan khách,

Thể Bình xin chân thành cảm tạ Ban Tổ Chức, các BS Trần Đình Thủy, Phạm Hữu Trác, Cẩn thị Bích Ngọc, Phạm Sỹ Liệu, và Phạm Phúc Nhân đã có lời mời Thể Bình tham dự Đại Hội Y Nha Dược Thế Giới Tự Do lần thứ VIII ở Melbourne, Australia để nói chuyện về đề tài giới y sĩ và cộng đồng.

Thể Bình cũng  rất cám ơn BTC đã sắp đặt một chuyến đi thăm viếng những di tích thuyền nhân ở các đảo Mã Lai, Phi Luật Tân và Nam Dương. Tuy cá nhân Thể Bình không phải là một thuyền nhân, nhưng cuộc thăm viếng tới những nơi thiêng liêng này là 1 điều mà Thể Bình mong ước đã từ lâu, bởi vì thảm trạng thuyền nhân là một phần rất quan trọng trong trang sử oai hùng và bi thảm cua Việt Nam, mà lich sử sẽ nhìn lại để đánh giá.

Oai hùng vì từng cá nhân của chúng ta đã đánh đổi tất cả, kể cả mạng sống, để đi tìm tự do và chống lại chế độ Cộng Sản Việt Nam. Bi thảm, vì đã gần nữa triệu người bỏ mạng trên biển khơi hoặc trong các trại ti nạn mà hậu quả vẫn còn tồn tại trong những người tỵ nan Việt Nam cho đến ngày hôm nay. Trang sử đó là một di sản mà từng người chúng ta ở trong đại hội không thể quên được.

Ngày hôm nay đây, sau 39 năm mất Miền Nam Cộng Hòa, chúng ta hãy xét lại những gì đã đạt đựơc trong thế hệ di dân và hướng nhìn cho tương lai của CĐNVHN và của đất nước VN, trong tinh thần của giới Y Nha Dược (YND).

Thể Bình xin chúc mừng những thành công thật rạng rỡ của các quý vị đồng nghiệp đã đạt đựơc trong gần 4 thập niên. Từ những professors, directors, provosts, deans và presidents của các ngành trong Y Nha Dược, cho đến những nghiên cứu phát minh khoa học, đã có rất nhiều thí dụ mà không thể kể hết được trong một thời gian ngắn. Đó là thành quả trong một thế hệ di dân.

Là 1 người bác sĩ, nha sĩ hay dược sĩ, chúng ta có được một sự may mắn to lớn. Qua những phấn đấu bản thân và khắc phục các khó khăn thử thách, chúng ta đã có được một kiến thức chuyên môn căn bản, một chổ đứng nhất định trong xã hội, và một môi trường sống kinh tế khả quan. Chúng ta có hoàn cảnh và phương tiện hơn rất nhiều người. Vậy chúng ta nên có tinh thần và đặt trách nhiệm như thế nào cho chính chúng ta?

Chúng ta đã làm rất nhiều công tác xã hội, từ những công tác y tế trong cộng đồng hải ngoại, từ thiện trong các quốc gia nơi chúng ta cư ngụ, đến những chuyến đi thăm viếng những nơi xa xôi hẻ  o lánh của Việt Nam. Từ những việc cứu trợ bảo lụt đến giúp đỡ cô nhi viện, các người tàn tật, chúng ta đã không ngừng đóng góp rất nhiều ở hải ngoại và trợ giúp đồng bào quốc nội. Chúng ta đã giúp xây dựng biết bao nhà thờ, chùa chiền, và trường học vv……. Nếu đường lên thiên đàng được đo lường qua những những công việc đó, thì đó là một điều rất là may mắn cho rất nhiều quý vị trong cộng đồng. Những công tác xã hội tốt đẹp đó rất phổ thông trong giới Y Nha Dược. Đó là thành quả trong một thế hệ di dân.

Vậy thì những thành quả đó có đủ hay không? Có đủ không khi trong cộng đồng nơi chúng ta đang sinh sống mặc dù đạt được rất nhiều thành công vẫn còn rất nhiều tệ trạng xã hội. Vẫn còn có sự thờ ơ với Cộng Đồng, xa lạ với sinh họat chính trị dòng chính nơi chúng ta cư ngụ. Có rất nhiều người không sử dụng quyền công dân mà chúng ta phải trãi qua bao khó khăn để có thể hưởng được ở nơi các quốc gia tự do dân chủ. Đã có bao nhiêu người trong chúng ta từng đi bầu đều đặn khi lá phiếu đó biểu hiện một nền dân chủ mà nhiều người trên phân nửa trái đất không có được.

Có đủ không khi con em chúng ta không hiểu được tại sao người Việt Nam lại đi xuất cảng làm nô lệ, hay các trẻ em phụ nữ bị buôn bán trên tòan cầu? Có đủ không khi cũng là người Việt Nam mà phần lớn người dân trong nước thiếu thốn đủ mọi thứ? Và nhất là tự do dân chủ?

Một trong những trọng trách to lớn nhất của chúng ta là giúp xây dựng cộng đồng hải ngoại nơi chúng ta sinh sống trên khắp thế giới. Cộng đồng hải ngoại (CĐHN) chúng ta cần vững mạnh để giúp cho các thế hệ sau có được 1 nền tảng vửng chắc, và có thể phát huy để thành công hơn những gì chúng ta đang làm trong 1 thế hệ di tản này. CĐHN là một biểu tượng cho bản chất của người tị nạn (our identity). CĐ đại diện cho tiếng nói của chúng ta với chính giới và quần chúng. CĐ tổ chức hội, lễ, Tết. CĐ là nơi sinh họat gặp gỡ. Một phương cách tích cực nhất để xây dựng cộng đồng hải ngoại là giới Y Nha Dược chúng ta hãy giúp cho thế hệ thứ 2, thứ 3 cùng góp sức phát triển cộng đồng trên nhiều phượng diện. Chúng ta khuyến khích các em quay trở lại với CĐ, gìn giữ tiếng Việt, văn hóa VN, và tinh thần dân tộc. Khi chúng ta đào tạo và trân quý những nhân tài trẻ đó là một chỉ dấu thật tốt đẹp, chứng minh thành quả trong 1 thế hệ di dân. Và hơn thế nữa, đó chính là bằng chứng của một nền văn minh VN mà chúng ta đã và đang xây dựng tại hải ngoại trong gần 4 thập niên qua.

Chúng ta cũng nên chúc mừng cho Cộng Đồng Melbourne và Cộng Đồng Liên Bang Úc Châu đã có những người lãnh đạo tuổi trẻ tài cao là anh Nguyễn văn Bon của Cộng Đồng Melbourne, và anh Võ Trí Dũng của Cộng Đồng Liên Bang Úc Châu, trong các nhiệm kỳ thứ hai hoặc thứ ba.

Trọng trách thứ 2 của chúng ta, khối Y Nha Dược, là cùng hướng về Tổ Quốc Việt Nam để giúp nâng cao dân trí nhằm xây dựng lại đất nước. Nhưng 1 trong những vấn đề tiên quyết là Việt Nam cần phải có 1 thể chế dân chủ, 1 chính quyền tôn trọng tự do nhân quyền và không độc tài. Ngày nay, sau hơn 39 năm, chinh phủ Việt Nam vẫn còn độc tài đảng trị, đàn áp sách nhiễu dân chúng, chính quyền tham nhũng, kinh tế lũng đọan, hố giàu nghèo càng gia tăng, con người sống không cần lương tri và xã hội không còn luân lý.

Những bề ngòai xa hoa, phồn vinh gỉa tạo, ăn chơi phung phí trác táng của chính quyền Cộng Sản và bè lũ là thành quả của tham nhũng. Tham nhũng trên xương máu của người dân, nông dân, công nhân, ngư dân đưa đến sự nghèo đói tột cùng ở các miền quê hay cao nguyên. Kinh tế khó khăn. Y tế thiếu thốn. Giáo dục thiếu căn bản và không có thực hành. Các em nhỏ không tiền đóng học phí trở thành mù chữ. Các phụ nữ nghèo đói bán mình để nuôi gia đình. Các thanh niên bán sức lao động trên xứ người, và sự nghèo đói tạo ra hoàn cảnh gây phạm pháp đưa đến những lầm than khốn cùng. Đó là Việt Nam của thế kỷ 21, đằng sau những tuyên truyền mị dân, đánh lừa quốc tế. Hãy tương phản sự thật đó với những thành quả của 1 thế hệ di tản tị nạn của cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Ngày hôm nay, ở nơi đây chúng ta đã nói đến tinh thần và trách nhiệm của khối Y Nha Dược. Nhưng quan trọng hơn nữa đó là ý thức. Nếu chính trong từng cá nhân chúng ta ý thức được thì chúng ta sẽ có đựơc tinh thần để đón nhận trách nhiệm.

(ROSA PARK: ý thức và can đảm – giá trị của con người không được đặt trên màu da và quyền lợi của tất cả mọi người phải được đồng đều. Chính ý thức đó và từ dũng cảm đó đã thay đổi cái nhìn và cuộc sống của người da màu trên xứ Mỹ. … Trong lịch sử VN của chúng ta, chúng ta đã có rất nhiều những thí dụ như vậy từ Bà Trưng, Bà Triệu cho đến Đức Trần Hưng Đạo. Và nhiều hơn thế nữa, ngày hôm nay có những người như Việt Khang. Tất cả đều có thể dũng mạnh và ý thức được giá trị linh hồn của VN là ở đâu).

Ý thức hệ này là gía trị của từng cá nhân, từng CĐ, từng thế hệ, và từng dân tộc. Ý thức hệ về bản chất tị nạn, về tự do dân chủ, chính là di sản của cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Kính thưa Quý vị,

Trong mỗi cá nhân chúng ta đều có thể đóng góp dựa trên khả năng, hòan cảnh và những phương cách thích hợp nhất.

Chúng ta cần xây dựng cộng đồng để có một tiếng nói trong chính quyền nơi chúng ta cư ngu. Phải sử dụng quyền công dân của các quốc gia dân chủ để hội nhập với chính trị dòng chính, bảo vệ và phát huy quyền lợi của cộng đồng Việt Nam hải ngoại và cá nhân tị nạn. Tại sao cần thiết? Bởi vì sinh hoạt, đi làm, đi học, buôn bán, tất cả đều bị ảnh hưởng bởi luật pháp và chính trị dòng chính nơi chúng ta đang cư ngụ.

Hơn thế nữa, chúng ta luôn đấu tranh trực diện với các đàn áp người dân bởi nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Tại sao chúng ta cần quan tâm? Cho dù có ai không ý thức được sự độc tài tàn ác của CS, hay nghĩ rằng đó là vấn đề của người trong nước, thì chính sách của Hà Nội ảnh hưởng đến từng cá nhân của chúng ta. Ai đã từng đi về VN, đều thấy tận mắt sự bạo động của công an. Không sử dụng được internet, nhưng có quyền ăn chơi tự do. Ai đã từng đem tiền về đầu tư đều hiểu đựơc các khó khăn nhiêu khê, tiền mất tật mang. Ai trong chúng ta đã từng trả tiền hối lộ nơi quan thuế hay khi làm giấy tờ, lấy tiền che thân cho qua ải.

May mắn thay khi về lại đến hải ngoai, chúng ta không phải chứng kiến những thảm trạng đó.

Chúng ta có thể vận động chính giới và dư luận quốc tế để áp lực chính quyền Cộng Sản Việt Nam thay đổi các chính sách, tiến đến dân chủ hoá và chống sự bành trứơng xâm lựơc của Trung Cộng.

Chúng ta giúp xây dựng đất nước, đào tạo nhân tài, nâng cao dân trí, và hỗ trợ cho người dân quốc nội trên nhiều phượng diện để họ có thể tự nhận thức được. Từ đó, người dân VN có thể tự quyết định lựa chọn, đem tới một nền dân chủ tự do cho đất nước Việt Nam. Đó là ý thức hệ thay đổi tương lai dân tộc trong một thế hệ tri thức.

Ba triệu người chết trong chiến tranh Việt Nam. Vài trăm ngàn người bỏ mình trong lao tù Cộng Sản. Nữa triệu người vùi thân trên biển cả và các hoang đảo để chúng ta có được ngày hôm nay. Chúng ta ý thức đựơc chúng ta chính là di sản của những hy sinh đó.

Di sản đó đang đơm bông nở trái.

Hãy cùng nhau bắt tay làm việc để truyền lại di sản này cho các thế hệ mai sau, để cùng hãnh diện, xứng đáng với nguồn gốc dân tộc Việt Nam.

*****

Thật đặc biệt: một NỮ LƯU yêu Nước, không hề vô cảm, mở lời chào một NAM NHÂN yêu VC, không những lạnh lùng trước cảnh lầm than của cả một dân tộc, mà lại còn đi KHEN chúng!

Lúc có bài phát biểu này, tên Lê Văn Hiếu chưa phản thùng và vẫn còn dựa hơi là Người Tỵ nạn CS. Việt gian Lê Văn Hiếu đã lộ nguyên hình, khi về bắt tay VC trong tháng 6 năm 2016, để cho thấy y chỉ là một loại “nguyễn ngọc ngạn” mà thôi, cả cuộc đời mãi sống để chạy theo đồng $$$: sau 75 thì vượt biên vì KHÔNG $, nay về lại để cúi mặt BƯNG BÔ cho cán ngố cũng chỉ để kiếm thêm $$$$!!! Lòng tham quả là vô đáy. Uổng!

(phụ chú của người chuyển ngữ Lê Bá Hùng).

image013

https://saigontimes.org/2016/09/11/lvh-tap-2-bai-3/

image015

http://www.vietmagazine.com.au/index.php/2016/06/02/toan-quyen-tieu-bang-nam-uc-le-van-hieu-den-tham-viet-nam/

 *****

Đọc thêm: “Những Bài Chuyển Ngữ MỚI của Lê Bá Hùng (Cuối 2016)”

Những Bài Chuyển Ngữ MỚI của Lê Bá Hùng (Cuối 2016)

Every nation gets the government it deserves.  (MICHAEL KOCAB)
On a le gouvernement qu’on mérite! 
Mọi dân tộc đều bị cai trị bởi bọn cầm quyền xứng đáng cho ngay chính họ.
 

1/Nổi Niềm Đắng Cay của Tướng Lãnh VNCH

 
 
và kế tiếp
 

 The Vietnam War:

An Assessment by South Vietnam’s Generals
 
Dec 1, 2010 by Lewis Sorley
944 pages (Texas Tech University Press)
 

2/ Loạt Tường Trình của ký giả RUSHFORD

 
 
và kế tiếp
 
để biết VC cướp $ của Dân đi trả tiền thuê cái bọn ‘Lobbies’ Mỹ làm dùm cố vấn,
để làm sao mời cho được Mỹ vô lại Việt Nam!!!
(sau khi đành đoạn hoang phí bao nhiêu là xương và máu Việt để đánh Mỹ cút đi!)
Cũng như để biết thêm về nhân vật
mà Trọng Lú sợ NHẤT trên thế gian này!
Quá ư tiêu biểu cho cái THẰNG NGU
 sợ một NGƯỜI TRÍ THỨC
(chớ KHÔNG phải chỉ là “người gọi là ‘trí thức’” !
 
Bác sĩ NGUYN TH BÌNH
  
 

3/ Một ông giáo hoàng KỲ LẠ

 
 
Đọc để biết rõ về một giáo hoàng, coi vậy mà còn . . . HƠN vậy nữa!
Sợ mếch lòng Trung cộng đến mức KHÔNG dám tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma!
 
Nhân vụ thắng cử của Tân Tổng Thống Hoa Kỳ,
Chúng ta cũng phải KHÔN NGOAN để tự khai hóa,
Biết tìm đọc những tài liệu CHÂN THẬT,
Thay vì cứ bị tụi truyền tin thông thường (mainstream media)
Dẫn dắt theo cái kiểu POLITICALLY CORRECT = NÓI VUỐT ĐUÔI ĐỂ LƯỢM PHIẾU!!!
 

Lê Bá Hùng

Windsor, Ontario, Canada

KISSINGER VÀ HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH GIẢ MẠO

Trích đoạn bài viết “Ngày 27-1973, Kissinger Bán Đứng Việt Nam Cộng Hòa” cùa Mường Giang

LÀM SAO QUÊN ĐƯỢC NGÀY 27-1-1973, KISSINGER BÁN ĐỨNG VIỆT NAM CỘNG HÒA CHO CỘNG SẢN QUỐC TẾ

Tuy chiến tranh đã kết thúc từ lâu và Cộng Sản Bắc Việt ngay từ ngày 1-5-1975 qua Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng… đã công khai xác nhận XÂM LƯỢC MIỀN NAM, còn Mặt Trận Giải Phóng chỉ là một phần Ðảng Bộ Trung Ương nối dài, một thứ công cụ bịp để che mặt và đánh lừa bọn trí thức ngây thơ da vàng da trắng mà thôi.

Thế nhưng đến nay vẫn còn nhiều người chưa chịu trả lại công lý cho người Việt Nam mỗi khi đề cập hay nhắc tới cuộc chiến đó. Thật ra đây cũng chỉ là một cách chạy tội của những người trước kia tay lỡ nhúng vào tội ác, hoặc cố ý hay vô tình khi đứng về phía Cộng Sản, thân thiện, giúp đỡ chúng một cách mù quáng, không cần biết tới lẽ phải và lương tâm. Do trên họ cứ tự mình tùy tiện áp đặt cho cuộc chiến đó, nhiều cái tên nghe qua thật khôi hài, cũng may đến nay không còn được mấy ai chấp nhận. Tóm lại, dù có gọi là cuộc chiến ủy nhiệm, nội chiến hay là chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc gì gì chăng nữa thì đó cũng là một cuộc chiến xâm lược do Cộng Sản Quốc Tế chủ động nhằm nhuộm đỏ Ðông Dương và Ðông Nam Á. Cộng Sản Hà Nội hay Việt Cộng miền Nam chỉ là kẻ thừa hành sứ mạng quốc tế trên, đã khiến dân chúng VNCH trở thành nạn nhân, phải đem máu xương ra chống lại để sống còn.

Từ đầu thế kỷ XX tới nay, Hoa Kỳ vẫn là một quốc gia vô địch. Chính Họ đã giúp đồng minh thắng phe trục qua hai cuộc thế chiến. Trong chiến tranh lạnh giữa khối tự do và Cộng Sản, Hoa Kỳ đã chiến thắng Liên Sô vẻ vang, giựt sập bức tường Bá Linh, giải thề Xô Viết, giải phóng Ðông Âu và nhiều quốc gia cọng sản khác trong đó có Ðông Ðức, Nga La Tư vĩnh viễn thoát khỏi gông cùm đỏ trong mấy thập niên qua. Mới đây quân Mỹ như sấm sét, trong vòng không đầy một tháng, bình định xong A Phú Hãn và Iraq là hai vùng đất chết được coi như bất khả xâm phạm của thế giới Ả Rập.

Nhờ những chiến công trời biển này ít ra hiện tại cũng còn làm Trung Cộng vỡ mật khi muốn trở thành trùm thế giới, bá chủ Á Châu và vua biển Thái Bình Dương. Nhưng tại VNCH thuở đó, Hoa Kỳ lại bị sa lầy dù thực tế tự chạy khi đã đạt được ba mục đích chiến lược quốc sách: Tạo được sự mâu thuân chia rẽ giữa Liên Xô-Trung Cộng, thành công trên chiến trường VN về sự thử thách vũ khí và quân đội với khối Cộng Sản Quốc Tế qua bộ đội Bắc việt và trên hết là ngăn chặn được Trung Công không cho tràn xuống Ðông Nam Á, ít nhất là lúc đó. Tóm lại người Mỹ tới VN không phải để chiến đấu thật sự như họ đã làm tại hai cuộc thế chiến hay mới đây ở A Phú Hãn và Iraq, mà đến để nướng quân dụ địch. Tất cả những cái được gọi là Rules of Engagement hay là luật chiến đấu dành cho quân đội Hoa Kỳ tại VN và Nam Hàn. Tài liệu này được giải mật một phần từ năm 1985 bởi Congressional record, nhờ đó ta mới biết được lý do tại sao quân đội Hoa Kỳ, Ðồng Minh và QLVNCH bị Hoa Thịnh Ðốn trói chặt tay khi đang chiến đấu. Bởi vậy cứ không tập, đổ bom liên tục xuống núi, xuống biển nên Hà Nội, Hải Phòng đâu có hề hấn gì cũng như không thấy có bất cứ một cán bộ nào kể cả cán thấp tại xã huyện bị thương vong.

Ðây là một trò chơi mèo bắt chuột mà rõ ràng nhất là đợt Mỹ oanh tạc Bắc Việt lần cuối cùng, bằng B52 liên tiếp, khủng khiếp suốt 12 ngày đêm và chỉ cần thêm MỘT NGÀY là toàn bộ chóp bu Hà Nội trốn dưới hầm thép ra đầu hàng, giúp dân chúng VN ngày nay thoát được ách nô lệ Cộng Sản. Thế nhưng Hoa Kỳ đã ngưng và Bắc Việt đã ngoan ngoãn hối hả ngồi vào bàn nghị sự. Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư đen 1975 miền nam sắp mất, trong lúc Hoa Kỳ với một lực lượng hải quân hùng hậu có đầy máy bay và bom đạn, kể luôn kho bom nguyên tử tới mấy trăm ngàn trái, nếu muốn dù có Trung Cộng và Liên Sô can thiệp, vẫn thừa sức đánh tan bộ đội Bắc Việt trong chớp nhoáng để cứu QLVNCH. Mặt trận Xuân Lộc tháng 4-1975 là một thí dụ điển hình, chỉ cần thêm vài chục trái bom tiểu nguyên tử, tình hình chiến sự đã thay đổi nhưng Mỹ cho bom mà không viện trợ ngòi nổ, ba trái bỏ tại ngã ba Dầu Giây chỉ để mua thêm thời gian giúp người Mỹ chạy được an toàn thế thôi.

Tóm lại, họ không bao giờ làm vậy và còn được lệnh di chuyển hết các mẫu hạm khỏi bờ Ðông Hải. Ðó là chiến thuật để thua vừa nuôi dưỡng chiến tranh sắp tới nên không thể bắt Hà Nội tan rã. Thế giới ghét cái trò lừa bịp của Hoa Kỳ nên mặc dù đã nhìn rõ sự láo dóc tàn khốc của Việt Cộng nhưng cứ giả vờ nhắm mắt hoan hô cổ võ trò hề trên, làm hại cho một số người VN nhẹ dạ tưởng thiệt, lại cứ theo giặc, tiếp tay hãm hại đồng bào mình trong lúc khốn cùng qua màn cổ võ ‘nối vòng tay lớn, hòa hợp hòa giải…’

Cũng vì vậy nên dù chiến tranh đã chấm dứt từ xa lắc nhưng VC chứng nào tật ấy, một mình một chợ, độc quyền thao túng lịch sử, dành làm chủ đất nước, bịa đặt những huyền thoại vu vơ để làm dao động các thế hệ mới lớn, mục đích chạy trốn tội ác thiên cổ đã gây ra trong mấy chục năm máu lệ hận trường. Riêng Hoa Kỳ trong màn kịch giả bộ thua đau, đã không ngớt biện minh để tìm cách thoát ra cái hội chứng Vietnam syndrom, trong đó chính họ là kẻ phản bội và thủ phạm tấn tuồng trên là Nixon-Kissinger. Một điều tàn nhẫn khác của người Mỹ, đó là sự vu cáo trắng trợn, đổ tội cho đồng minh hèn nhát không chịu chiến đấu nên phải mất nước. Thật sự trong giờ 25, nếu không có sự chiến đấu can trường của Quân Lực VNCH trên khắp các chiến địa, liệu một số người Mỹ, kể luôn ông đại sứ có còn mạng thoát được Sài Gòn? Như vụ Ba Tư bắt con tin Mỹ năm 1983.

Ngày nay nhờ tài liệu mật từ văn khố của Liên Sô cũ cũng như tại Thư Viện Chiến Tranh Hoa Kỳ ở Texas gọi tắt là ISAW, đã chấm dứt các huyền thoại dỏm của VC trong mấy chục năm qua, tốn công dàn dựng bóp méo và đưa ra ánh sáng rằng những xáo trộn chính trị tại VNCH, dù do ai cũng chỉ là cớ để Bắc Việt cưởng chiếm miền nam.

Ý đồ trên, theo J.Race trong The Lost Revolution, đã manh nha từ năm 1958 khi Hà Nội ra lệnh khui lại các hầm vũ khí được chôn giấu tại miền Nam trước khi tập kết, để trang bị cho cán binh cơ sở nằm vùng. Cũng trong năm này, Lê Duẩn theo lệnh Hồ đã lén lút vào Nam lượng giá tình hình và trở về bắc họp Trung Ương Đảng lần thứ 15, nghị quyết lập đảng bộ miền Nam, tức là VC hay Mặt Trận Giải Phóng, tấn công VNCH bằng vũ trang. Chiến tranh được phát động chính thức bằng hai cuộc nổi loạn gọi là đồng khởi nhưng đã bị dập tắt ngay tại Trà Bồng (Quảng Ngãi) ngày 28-8-1959 và BếÔn Tre ngày 17-1-1960. Chính Thủ Tướng Nga Nikita Khrushchev đã phất ngọn cờ tiến quân ngày 6-1-1961 để mở màn cuộc chiến VN sau khi vở tuồng mặt trận trình diễn ra mắt tại một khu rừng già kế biên giới Việt Miên trong liên ranh hai tỉnh Hậu Nghĩa-Tây Ninh cuối tháng 12-1960 với nhân sự nòng cốt gồm hơn 25.000 cán binh từ bắc hồi kết. Tháng 5-1962, Bộ Trưởng quốc phòng Hoa Kỳ thời Tổng Thống J.Kennedy là McNamara thăm viếng VNCH, cũng để mở màn cái thảm kịch chiến tranh phải thua, khiến hơn 60.000 quân nhân các cấp Hoa Kỳ, Úc, Tân Tây Lan, Nam Hàn,Phi, Thái và mấy triệu người VN cả hai miền Nam Bắc phải chết oan khiên trong bom đạn tàn bạo của một cuộc chiến bẩn thỉu có một không hai trong dòng sử nhân loại.

Ngày 1-11-1963 Hoa Kỳ đạo diễn biến cố lật đổ nhà Ngô, một mặt tạo sự vô chính phủ tại miền nam trong ba năm xáo trộn 1963-1967, vừa có cớ đem quân vào giúp đánh VC ổn định chính trị nhưng trên hết là thực hiện cái chiến lược, hy sinh con chốt VNCH để bắt nhốt con cọp ngủ Trung Cộng, rảnh tay tiêu diệt Liên Sô nhưng thả Hà Nội để lại tiếp tục làm con chốt thí mạng với Tàu đỏ khi cần. Chiến tranh cứ thế leo thang, tại miền Nam Mỹ thêm quân, dội bom oanh tạc, thì miền Bắc càng nhận được thêm nhiều quân viện gạo vải từ khối Cộng Sản Quốc Tế cũng như sự hiện diện của mấy trăm ngàn đồng chí Trung Cộng, Bắc Hàn, Cu Ba, Ðông Ðức.. do Hồ lãnh tụ mời tới tham chiến, đóng đầy từ vỹ tuyến 20 ở Thanh Hóa cho tới biên giới Việt Hoa.

Ngày 4-9-1967 mở đầu nền Đệ Nhị C6ọng Hòa cho tới ngày tàn cuộc 30-4-1975. Cũng từ đó QLVNCH trên khắp chiến trường trong nước cũng như tại Cam Bốt và Hạ Lào đã chứng tỏ cho thế giới là một đạo quân thiện chiến và có kỷ cương nhất vùng Ðông Nam Á qua các chiến thắng lừng lẫy trong Tết Mậu Thân 1968, vượt biên đánh thẳng vào căn cứ địa của R tại Cam Bốt năm 1970, Hạ Lào năm 1971, mùa hè đỏ lửa 1972, Hoàng Sa tháng 1-1974.. tạo nên một niềm tin tất thắng trong lòng quân nhân các cấp, nhất là những sĩ quan chỉ huy trẻ tuổi trung cấp và tuyệt đại quân sĩ thanh niên nam nữ yêu nước dưới quyền.

Thế nhưng giữa lúc chiến thắng gần kề thì cũng là lúc Kissinger công khai thái độ bán đứng đồng minh qua cái hiệp định quái đản ngày 27-1-1973. Thì ra tất cả đều là xảo thuật, đóng kịch từ Cuộc Họp Thượng Đỉnh Midway ngày 8-6-1969 giữa Nixon-Nguyễn Văn Thiệu với cam kết bảo vệ và quân viện cho VNCH… chỉ là lời hứa cuội trên văn bản. Thật sự Kissinger đã đi đêm với Cộng Sản Hà Nội từ khuya để rút quân, lấy tù binh về nước.

Ðể đạt được trò bịp trên, Hoa Kỳ dùng thủ đoạn chèn ép chính phủ VNCH bằng cái thòng lọng VIỆN TRỢ, chụp mũ làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền Nam qua truyền thông truyền hình và hăm dọa ám sát thủ tiêu lãnh đạo nếu không chịu ký nhận cái hiệp định phi lý vô nhân đạo, mà VC đã đem liệng ngay vào thùng rác sau đó.

Cái hài hước của lịch sử mà giờ ai cũng biết được, là mặt thật nhưng vẫn phải cắn răng nuốt lệ thi hành. Và cũng kể từ đó, người Mỹ hân hoan rút hết về nước, trước sự thắng cử vinh quang thêm một nhiệm kỳ của tổng thống Nixon. Bộ đội Bắc Việt thế chân Hoa Kỳ, công khai ở lại lãnh thổ độc lập tự do của người miền Nam theo tinh thần hiệp định hai nước, hai chính thể ký năm 1954. Cũng qua sự toa rập ký kết từ trước, quốc hội Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH, đưa đến sự sụp đổ toàn diện của một quốc gia chỉ vì tin cậy vào sự giúp đỡ của đồng minh.. vào lúc 12 giờ trưa ngày 30-4-1975.

Trong suốt bao chục năm qua, Cộng Sản đã ký bao nhiêu hiệp định ngày 6-3 và 14-9-1946, 20-7-1954 rồi 27-1-1973 nhưng chẳng bao giờ thực hiện. Bởi vậy đừng tin những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn những gì chúng làm. Chí lý thay lời nhận định của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vậy mà tới nay còn không ít người không chịu tin vào sự thật.

1 – KISSINGER VÀ HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH GIẢ MẠO:

Cái khôi hài cười ra nước mắt của người Mỹ là ngay trong lúc một mặt đổ quân ào ạt vào Nam Việt Nam năm 1965, cũng đồng thời bí mật đi đêm với Bắc Việt gọi là mưu tìm một giải pháp hòa bình, chính Pháp và Tòa Thánh La Mã khởi động đầu tiên dàn xếp để hai phía ngồi vào bàn hội nghị nói chuyện ngưng bắn theo kế hoạch Mayflower nhưng bất thành.

Ngày 17-6-1965 Anh và Liên Sô nhập cuộc, mở hội nghị 4 nước Anh-Ghana-Nigeria-Tobago với sự ủng hộ công khai của hai nghị sĩ Dân Chủ là Mike Mansfield và Fullbright, muốn Mỹ ngưng oanh tạc Hà Nội và ngược lại Bắc Việt ngừng chuyển bộ đội vào nam nhưng bị Cộng Sản bác bỏ vì lập trường đối nghịch của hai đàn anh Nga-Tàu. Tháng 7/1965 tổng thư ký LHQ là U Thant muốn mở lại Hội Nghị Geneve 1954. Tháng 10/1965 ngoại trưởng Ý là Amintore Fanfani và Giáo Hoàng Paul VI cũng nhập cuộc, bằng cách liên lạc thẳng với Hà Nội, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Tổng Thống Johnson nhưng cũng bất thành vì Hồ đòi công nhận Ma mặt trân là một chánh phủ giống như VNCH.

Những kế hoạch kể trên đều khởi động nhịp nhàng theo các phong trào phản chiến tại nội địa Mỹ do Luther King, Hoffman, Larson xách động, biến các trường đại học Mỹ thành căn cứ du kích Bắc Việt ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Chiến tranh dữ dội khắp VNCH nhịp nhàng với các biến động chính trị tại Huế-Sài Gòn. Hoa Kỳ tiếp tục oanh tạc miền Bắc nhưng Hồ vẫn không nhượng bộ vì đang leo dây giữa Nga-Tàu, nên chỉ biết ậm ờ trước các đề nghị hòa bình. Tại Mỹ, ngày 20-2-1966, Robert F.Kennedy công khai đòi cho MT/GPMN tham gia chính phủ nhưng bị chống đối kịch liệt.

U Thant và De Gaulle là hai nhân vật hung hăng nhất trong việc kêu gào phải hòa bình tức khắc tại VN bằng cách ngưng oanh tạc miền bắc, Mỹ rút quân và để MT/GPMN tham chính. Sở dĩ cả hai làm như vậy vì U Thant tuy là tổng thư ký LHQ nhưng lại thân Cộng ra mặt, còn De Gaulle với dụng tâm đạo đức giả, thù Mỹ đã phỏng tay trên Ðông Dương, nên nhỏ mọn trả thù vặt. Rốt cục cả thế giới lẩn Vatican đều trúng kế Hồ Chí Minh, càng lúc càng chia rẽ và phân hóa trầm trọng.

Năm 1967 phong trào phản chiến lên cao tại Hoa Kỳ làm phân hoá đảng dân chủ vì là mùa bầu cử, nên tổng thống Johnson tuyên bố trong cuộc hội nghi với TT Nguyễn văn Thiệu tại Guam, là sẽ thương thuyết thẳng với Bắc Việt. Tất cả chỉ là màn hỏa mù ngoại giao vì Mỹ và Hà Nội đã đi đêm từ cuối năm 1966, do sự dàn xếp của Thụy Ðiển nhưng phải đợi tới ngày 31/3/1968 khi Johnson tuyên bố không tái tranh cử và bộ đội của Bắc Việt cũng như VC bị tan nát tại miền Nam trong trận Tết Mậu Thân, cọng sản mới chính thức ngồi lại với Mỹ. Rồi Nixon thắng cử tống thống, Kissinger được giao trách nhiệm đi đêm với Lê Ðức Thọ, tự quyết định số phận của VNCH, mà không cần đếm xỉa gì tới chủ quyền của miền Nam lúc đó.

Theo Giáo Sư Tiến Sĩ Stephen Young, từng phục vụ nhiều năm trong bộ ngoại giao Hoa Kỳ thì Kissinger, trưởng phái đoàn thương thuyết Mỹ đã bán đứng VNCH cho Bắc Việt khi chấp thuận cho Hà Nội được lưu giữ đạo quân xâm lăng ở miên nam VN. Hậu quả tạo ưu thế quân sự cho địch cưỡng chiếm VNCH khi Hoa Kỳ rút toàn bộ quân lực về nước và cắt giảm quân viện năm 1973 rồi cắt đứt năm 1975. Tổng thống Nixon ngay khi làm TT năm 1969 đã tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh, đem hết quân Mỹ về bằng một kế hoạch bí mật.

Vấn đề chính là Nam VN chẳng hề biết tới kế hoạch đó là gì và nói là VN hóa chiến tranh nhưng QLVNCH tới đầu năm 1972 mới được cải tiến trang bị, trong lúc bộ đội miền bắc đã sử dụng những vũ khí cá nhân và cộng đồng tối tân của khối cộng từ khi Mỹ còn hiện diện. Năm 1972 Nixon đã đạt được những thỏa uớc lịch sử với Nga lẫn Trung Cộng. Chính điểm này để Nixon thắng Mc.Govern làm TT nhiệm kỳ 2. Tuy nhiên việc oanh kích Hà Nội trong 12 ngày liên tiếp và thả mìn phong tỏa Hải Phòng, suýt làm Bắc Việt đầu hàng vô điều kiện, nếu không bị đảng dân chủ và phe phản chiến chống đối dữ dội.

Giữa lúc TT Nixon trong tình thế khó xử, thì Kissinger đưa sáng kiến phản bội VNCH để đổi lấy sự ủng hộ của Quốc Hội Mỹ, trong việc làm thăng bằng cán cân chiến tranh lạnh, nói thẳng là giúp Do Thái đương đầu với khối Ả Rập. Do nhận thức sai lầm trên, đã khiến Kissinger thành kẻ chủ bại, hèn nhát, bất nhân đẩy VN vào định mệnh oan nghiệt. Thực tế còn gian ác hơn ta nghĩ, vì Kissinger chẳng những muốn Hoa Kỳ rút khỏi VN mà còn làm cho dân chúng Mỹ không còn nhớ tới cuộc chiến đó trong tiềm thức. Hậu quả lưu manh này khiến cho các quân nhân Hoa Kỳ tham chiến tại VN trở về bị đối xử tàn tệ, tẻ nhạt cho tới mấy năm sau mới được hồi phục lại danh dự.

Trong thâm tâm của Kissinger, đưa quân đội Mỹ về chưa đủ, mà phải làm sao thọc gậy quốc hội cắt đứt mọi nguồn viện trợ cần thiết, thì mới chấm dứt được chế độ miền Nam. Do trên ông ta tự đẻ ra sáng kiến riêng, chủ đích làm hỏng chương trình VN hoá của Nixon. Theo tài liệu của Đại Sứ Bunker thì bí mật lớn nhất của Kissiger là sự xuống thang chiến tranh. Ðây là sáng kiến tàn nhẫn nhất vì để đổi một thắng lợi ngoại giao cho Mỹ và VNCH, Kissinger cho lại Bắc Việt MỘT CHIẾN THẮNG QUÂN SỰ, tức là Y đã tiết lộ bí mật quốc phòng cho địch. Nhưng sự kiện này không bao giờ Kissinger dám nhận và chính trong hồi ký của TT. Nixon đã viết là chẳng bao giờ ông cho phép làm chuyện đó khi thương thuyết với Hà Nội.

Tóm lại để kết thúc chiến tranh VN theo ý mình, Kissinger không bao giờ trình bày sự thật khi thương thuyết với Hà Nội cho TT.Nixon biết. Từ ngày 13-4-1971, Kissinger đã manh nha trò phản bội và lộng quyền khi tự sử dụng đường dây nóng đặc biệt không qua Bộ Ngoại Giao và tổng thống Mỹ để ra lệnh cho Ðại Sứ Bunker và Bắc Việt. Theo các tài liệu lịch sử đã giải mật, những lộ đồ đề nghị hòa bình VN của các giới chức Mỹ từ Tổng Thống Nixon tới Đại Sứ Bunker hoàn toàn trái ngược với ý riêng của Kissinger

Theo bản dự thảo chiến lược chính thống, thì sự ký kết hòa bình chỉ xảy ra sau khi QLVNCH đạt được chiến thắng tại Hạ Lào qua cuộc hành quân Lam Sơn 719, phá vỡ toàn bộ các căn cứ hậu cần của Bắc Việt tại đây nhằm cắt đứt đường tiếp vận cho bộ đội miền bắc qua đường mòn Hồ chí Minh. Về rút quân thì bắt đầu năm 1971-1972, bộ binh về trước khi đã chứng thật rằng QLVNCH được VN hoá chiến tranh, đủ mạnh để thay thế quân lực Hoa Kỳ đương đầu với Bắc Việt. Riêng Không quân-Hải quân vẫn duy trì cho tới khi thấy Hà Nội thật sự tôn trọng hòa bình của Nam VN. Một điều quan trọng nhất mà đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là Bunker, mong muốn Hoa Thịnh Ðốn phải chứng tỏ vai trò hợp hiên của CHÍNH PHỦ VNCH tại bàn hội nghị và cái sự Hoa Kỳ ngồi nói chuyện với Hà Nội đã là một nhượng bộ, vì rõ ràng lúc đó Bắc Việt đang thảm bại quân sự trên khắp các chiến trường , chiến dịch ở miền nam. Một sự kiện khác cũng không kém phần quan trọng tại Hoa Kỳ, là mặc dù bị đảng dân chủ đánh phá kịch liệt, đòi rút quân về tức khắc để đổi tù binh nhưng TT Nixon lúc đó, vẫn cương quyết không tiết lộ lộ trình triệt thoái và giữ nguyên ý định không giải kết với VNCH vì quyền lợi Mỹ.

2-KISSINGER BÁN ĐỨNG VNCH CHO CS QUỐC TẾ:

Ðể đạt được trò bịp trên, Hoa Kỳ dùng thủ đoạn chèn ép chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bằng cái thòng lọng VIỆN TRỢ, chụp mũ làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền nam, qua truyền thông truyền hình và hăm dọa ám sát thủ tiêu lãnh đạo nếu không chịu ký nhận cái hiệp định phi lý vô nhân đạo, mà VC đã đem liệng ngay vào thùng rác sau đó.

Cái hài hước của lịch sử mà giờ ai cũng biết được, là mặt thật nhưng vẫn phải cắn răng nuốt lệ thi hành. Và cũng kể từ đó, người Mỹ hân hoan rút hết về nước, trước sự thắng cử vinh quang thêm một nhiệm kỳ của tổng thống Nixon. Bộ đội Bắc Việt thế chân Hoa Kỳ, công khai ở lại lãnh thổ độc lập tự do của người miền Nam theo tinh thần hiệp định hai nước, hai chính thể ký năm 1954. Cũng qua sự toa rập ký kết từ trước, quốc hội Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng Hòa, đưa đến sự sụp đổ toàn diện của một quốc gia chỉ vì tin cậy vào sự giúp đỡ của đồng minh.. vào lúc 12 giờ trưa ngày 30-4-1975.

Trong suốt bao chục năm qua, Cộng Sản đã ký bao nhiêu hiệp định ngày 6-3 và 14-9-1946, 20-7-1954 rồi 27-1-1973 nhưng chẳng bao giờ thực hiện. Bởi vậy đừng tin những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn những gì chúng làm. Chí lý thay lời nhận định của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vậy mà tới nay còn không ít người không chịu tin vào sự thật.

2-KISSINGER BÁN ĐỨNG Việt Nam Cộng Hòa CHO CS QUỐC TẾ:

Theo các sử gia, nếu Kissinger thật sự là một nhà thương thuyết giỏi và có lương tâm, ông ta đã vượt qua được những sóng gío trùng trùng lúc đó, mang lại vinh dự cho nước Mỹ và công lý cho Việt Nam Cộng Hòa. Lịch sử đã chúng nhận điều này chỉ mới đây trong việc Tổng Thống G.W.Bush trước khi tiến quân đánh Iraq. Nhưng Kissiger chỉ là một học giả chứ không phải là một nhà ngoại giao, một người Do Thái thuần tuý nên không hề biết tới quyền lợi và danh dự của Hoa Kỳ. Trước tiên, về việc cho phép BỘ ÐỘI BẮC VIỆT ở lại miền Nam, Cam Bốt, Lào được coi như một hành động ngu xuẩn nhất của Kissinger.

Thế nhưng Kissinger nơi trang 1488, y đã tự sửa lại là: “Người Việt Nam và các dân tộc khác ở Ðông Dương, sẽ tự thảo luận để tất cả quân đội ngoại nhập rút ra khỏi Ðông Dương“. Như vậy muốn Hoa Kỳ ngưng oanh kích rút quân, mà không có một đòi hỏi gì cho đối phương, thậm chí còn cho chúng ở lại để tiếp tục làm giặc, thì thương thuyết để làm gì, cho nên sau này Hà Nội và thế giới khinh khi, cười chê Hoa Kỳ là vậy. Ngoài ra chẳng bao giờ Kissinger coi Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia độc lập có chủ quyền, nên hắn đã có cái nhìn coi Hà Nội mới là đại diện để thương thuyết với Mỹ. Ðây là một sự phản bội trắng trợn của lời cam kết từ các chính quyền Hoa Kỳ như TT. Kennedy, Johnson, Nixon.. luôn tuyên bố tôn trọng nền độc lập của quốc gia đồng minh.

Tóm lại với luận điệu lừng khừng, chủ bại, đầu óc lắt léo tàng tàng, kissinger đi phó hội trong một tư thế hèn yếu, rẻ mạt, nên chỉ còn bán đứng Việt Nam Cộng Hòa mới mong lấy lại tù binh về. Ngày 25-5-1971, để tránh bị kiện tụng vào phút chót, Kissinger đã điện thoại gạt Bunker là chương trình nghị sự sẽ theo đúng bản dự thảo của TT.Nixon và tòa đại sứ Mỹ-Sài Gòn.

Cũng do lòng tin tưởng trên, nên ngày 3-6-1971, Ðại Sứ Bunker đã tường trình với Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu có Kissiger hiện diện, kết quả thương thuyết theo bản dự thảo của TT.Nixon và Toà đại sứ. Trong khi trình bày, Bunker xác quyết là BỘ ÐỘI BẮC VIỆT cùng rút về Bắc khi quân đội Ðồng Minh và Hoa Kỳ triệt thoái. Việc tréo cẳng ngổng này cho thấy, TT Thiệu và Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn không được Hoa Kỳ cũng như Kissiger hỏi han hay cho biết một chút gì về vận mệnh tương lai của xứ sở mình. Trước sự kiện trên, Kissimger chẵng những không đính chính mà còn lợi dụng sự không biết gì, để ép TT Thiệu không được tiếp tục đòi hỏi hắn, khi việc BỘ ÐỘI MIỀN BẮC đã được giải quyết.

Tháng 10/1972 giai đoạn cuối cùng trong bàn hội nghị, Kissinger thay vì cố gắng đạt được những ưu thế cho Hoa Kỳ và đồng minh Nam Việt Nam, Kissinger lại tấn công tới tấp TT Nguyễn văn Thiệu và gọi đó là lý do chính trở ngại cho cuộc hoà đàm. Ngày nay dựa vào những tài liệu mật và ngay chính hồi ký của Kissiger, chúng ta mới thấu hiểu sự dối trá và bất lương của y đối với Việt Nam Cộng Hòa. Ðó là sự hiểu biết quá kém cỏi về lịch sử Việt Nam dù hắn ta luôn tự hào về cái trường đại học luật khoa danh tiếng Havard nay chỉ còn là cái mốt thời thượng. Hèn nhát trước phong trào phản chiến do cọng sản quốc tế dàn dựng, Kissinger đã đánh mất sự thông minh của một nhà ngoại giao, qua mặt dân chúng và chính quyền Hoa Kỳ, phản bội đồng minh đang chiến đấu dũng liệt trước làn sóng đỏ.

Ngày 1-8-1972, trong cuộc họp mật, Hà Nội bảo với Kissinger là ngoài việc BỘ ÐỘi Ở LẠI, TT Thiệu phải từ chức để thay thế bằng chính phủ liên hiệp. Từ tháng 8-1972, sự chống đối Mỹ từ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lên tới cao điểm như không cần đếm xỉa tới thời hạn mà Kissinger ấn định, TT Thiệu không tiếp chuyện với TT. Nixon gọi từ Honolulu cũng như tuyên bố là sẽ không bao giờ từ chức, Chính Phủ Liên Hiệp không bao giờ có.

.20-9-1972 sau chuyến thanh sát tại Quảng Trị điêu tàn đổ nát, vừa được QLViệt Nam Cộng Hòa chiếm lại, TT Thiệu về Sài Gòn tuyên bố “vận mệnh của DÂN TỘC Việt Nam phải do đồng bào Việt Nam quyết định“ và ông đả tố cáo Kissinger chỉ biết tự mình quyết định tất cả mà không coi Việt Nam Cộng Hòa ra gì.

Ngày 19-10-1972, Kissinger, Bunker họp với TT Thiệu, Phó Tổng Thống Hương và Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia. Theo các tài liệu ghi nhận, cuộc họp đầy căng thẳng và thái độ cuả TT.Thiệu khinh bỉ Kissinger tại cuộc họp mà ai cũng thấy rõ khi tuyên bố hắn ta chỉ là một người trung gian không hơn không kém, quyền quyết định hòa hay chiến là của Sài Gòn-Hà Nội, chứ không phải Hoa Kỳ . Phiên họp chấm dứt nhưng phút chót TT.Thiệu không biết vì một lý do nào đó lại ký nhận vào bản hiệp định..

Ngày 26-11-1972, Bunker chuyển một lá thơ của Nixon cho biết nếu Việt Nam Cộng Hòa cưỡng lại Hoa Kỳ thì VIỆN TRỢ sẽ bị cúp ngay và tánh mạng Tổng Thống Thiệu nếu muốn giữ, phải KÝ KẾT. Ðể tấn tuồng kết thúc trọn vẹn, bất ngờ ngày 18-12-1972, Nixon ra lệnh oanh tạc THẬT Hà Nội-Hải Phòng và các căn cứ quân sự tại Bắc Việt một cách sấm sét dã man, bất chấp Dân Chủ và phản chiến kêu gào la ó. Ðến lúc này, thì TT Thiệu không tin cũng phải tin là Hoa Kỳ qua lời hứa của Nixon trong mấy chục bức thơ riêng, sẽ dội B52 và can thiệp ngay bằng quân sự nếu Hà Nội phản thùng, tấn công Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 30-4-1975, miền Nam bị bức tử vì Kissinger, một tên trí thức xuẩn động ngây thơ, có đầu óc thực dân kiêu căng thời Trung Cổ. Hắn vì muốn thoả mãn nhu cầu cho bọn siêu quyền lực mà phần lớn gốc Do Thái đang thao túng nước Mỹ và thế giới, cho lũ phản chiến đa số bị bệnh tâm thần vì đồng tình luyến ái, hút sách, ảo vọng nên đã hại không biết bao nhiêu người đã chết, tan nhà, mất nước trong suốt 34 năm qua, tới nay càng thêm đau khổ tận tuyệt trong cảnh nước mất nhà tan, dân tộc bị Hán hoá tuyệt chủng.

Theo các sử gia cận đại, thì cái hệ lụy bi thảm mà Hoa Kỳ hứng chịu hôm nay khi phải đối đầu với Hồi giáo cực đoan, Iraq, Iran, Trung Cộng, Bắc Hàn.. cũng như sự phản bội trắng trợn của các đồng minh trung thành lâu đời như Pháp, Ðức, Arab Saudi, Thổ nhỉ Kỳ, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Nam Dương.. phần lớn đều do chính sách sai lầm có chủ ý của Kissinger khi nắm quyền, hoàn toàn chỉ nghĩ tới Do Thái và bọn siêu quyền lực tư bản, thời nào cũng nắm quyền sinh sát nhân loại.

Trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai 1955-1975, cộng sản quốc tế Hà Nội đã thu được nhiều thắng lợi qua hai hiệp định Genève 1954 và Ba Lê 1973. Cả hai đều giả mạo do ngoại bang dàn dựng trước cái gọi là tố chức Liên Hiệp Quốc, bất xứng vô thực. Ðây mới chính là một trong những yếu tố then chốt, đã dẫn tới thảm kịch Việt Nam mà theo các sử gia đều quy cho Kissinger, tội bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho cọng sản Bắc Việt bằng đủ mọi cách dàn dựng lên một hiệp định hòa bình giả mạo, được ký ngày 27-1-1973 tại Ba Lê. Tất cả vở hài kịch trên từ đầu tới cuối chỉ do Hoa Thịnh Ðốn và Hà Nội tự soạn tự diễn mà không hề đếm xỉa tới dân tộc Việt Nam.

Sau năm 1975, tất cả âm mưu đen tối trên lần lượt bị lột trần ra ánh sáng, qua các tác phẩm do chính những nhân vật có liên quan kể lại trong Bí Mật Dinh Ðộc Lập của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, những lá thư của Tổng Thống Nixon gởi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tài liệu của Giáo Sư Stephen Young, chuyên gia tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Hồ Sơ Mật của Hoàng Ðức Nhã, cựu tổng trưởng Dân Vận Chiêu Hồi kiêm bí thư của TT Thiệu, và mới nhất là tác phẩm No Peace No Honor của sử gia Larry Berman. Tất cả đều đồng thanh gay gắt lên án và luận tội Nixon-Kissinger đã lường gạt cũng như phản bội dân chúng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên xác thực hơn hết cũng vẫn là những lời tuyên bố huênh hoang sau năm 1975 của Lê Ðức Thọ, Nguyễn thị Bình, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ.. và chính miệng Kissinger qua những hồi ký đã xuất bản như Năm Tháng Ở Bạch Cung (1979), Niên Đại Sóng Gió (1982) thế nhưng mai mỉa nhất vẫn là Bí Lục Kissinger (The Kissinger Transcripts), trong đó ngoài Ðông Dương bị bán đứng, cả Liên Sô cũng là nạn nhân bi thảm trong canh bạc thời chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Trung-Nga.

Ngày nay qua sự sụp đổ của chủ nghĩa cọng sản, mặt thật của Bắc Việt đang đô hộ Việt Nam và cái liêm sỉ của đống núi sách vở trong và ngoài nước viết về cuộc chiến Việt Nam, phần lớn nhắm mắt theo tài liệu tuyên truyền của Việt Cộng có sẵn khắp các thư viện quốc tế. Bao nhiêu đó cũng đủ cho ta thẩm định về tính chất phiến diện thiếu công bằng của một số trí thức có bằng cấp cao nhưng cạn kiệt hồn nước và tình người.

Cũng từ đó để chúng ta, những người dân đen, đến lúc phải tỉnh mộng, chấm dứt việc giao phó trách nhiệm đối với non nước và sinh mệnh mình cho bất cứ ai không xứng đáng và tín nhiệm dù họ đang nhân danh bất cứ một thứ gì. Càng nhớ càng thêm thê thảm tủi nhục cho chính bản thân mình, một dân tộc nhược tiểu, luôn bị bán đứng và dầy vò trong suốt thế kỷ, qua hai cái vỏ quốc gia rồi cọng sản. Bao chuc năm rồi nhưng không bao giờ quên được lời tuyên bố chát chua máu lệ của ông Trần Kim Phượng, đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Thịnh Ðốn ngay lúc xe tăng Bắc Việt tiến vào Dinh Ðộc Lập trưa 30-4-1975: ”Làm đồng minh với Mỹ chỉ có chết, tốt hơn nên làm bạn với Cộng Sản, ít ra còn được che chở và giúp đỡ“. Ðây là lời cảnh tỉnh tha thiết nhất cho những ai còn muốn nhờ ngoại bang để quang phục đất nước.

Cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai 1955-1975 kết thúc là thế đó, hơn 60.000 quân nhân Mỹ và Ðồng Minh bỏ mạng, nhiều người khác bị thương, một trăm năm mươi tỷ Mỹ Kim tiền thuế của dân chúng Mỹ, đổi lấy sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa bằng một hiệp định chẳng danh dự do chính Kissinger đạt được.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

– Văn kiện của Ủy Ban Liên Lạc Phục Hồi Thể Chế Việt Nam Cộng Hòa
– Bí Mật Dinh Ðộc Lập của TS. Nguyễn Tiến Hưng
– Kissinger đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho Hà Nội của TS Stephen Young
– Không Hòa Bình, Chẳng Danh Dự của Larry Berman, Nguyễn Mạnh Hùng dịch

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Giêng 2016
Mường Giang

Xem thêm:

  • Henry Kissinger, hiểm ác, Kẻ thù số 1 của Việt Nam
  • Trong quyển The Trial of Henry Kissinger (Verso Books, 2001), Hitchens đã cáo buộc
    Kissinger những tội trạng như sau, với đầy đủ bằng chứng hay lập luận trong 10
    chương :
    – Cố ý giết thường dân tại Việt Nam, Cao Miên, Lào (3 chương)
    – Đồng lõa tội tàn sát tập thể dân Bangladesh (1 chương)
    – Chủ mưu đảo chánh và giết một lãnh tụ ở Chile, ở Chypre (3 chương)
    – Chủ mưu và thực hiện tội diệt chủng tại Đông Timor (1 chương)
    – Tham gia vào việc bắt cóc và giết một ký giả người Hi Lạp ở Washington DC (2
    chương).
    Với những tội trạng nầy, Kissinger phải được đưa ra xét xử tại một Tòa án quốc tế. Dĩ
    nhiên, với những tài liệu lần lượt giải mật, thế giới càng ngày càng khám phá nhiều tội
    ác tầy trời của Kissinger. Đối với tôi, không phải chờ đến cáo trạng của Hitchens, khi
    tôi rời Việt Nam trong hốt hoảng và tay trắng năm 1975, tôi cũng đã biết đường lối ngoại giao của Kissinger đã
    đưa tới hậu quả là cộng sản đã thống nhứt trong nghèo đói, bất công và độc tài trên toàn cỏi Việt Nam từ ngày
    30 tháng tư năm 1975…..Xem tiếp>>
Tên tội đồ của Việt Nam

Nixon tìm cách phá hoại hòa đàm Việt Nam năm 1968?

Cựu Tổng thống Mỹ, Richard Nixon, từng yêu cầu một phụ tá bí mật tìm cách “phá hoại” cuộc đàm phán hòa bình ở Việt Nam trong những ngày cuối của chiến dịch vận động tranh cử Tổng thống Mỹ năm 1968 vì sợ rằng tiến bộ hướng tới chấm dứt chiến tranh sẽ gây tổn hại cho cơ may trở thành Tổng thống của ông, theo những ghi chú mới được phát hiện.

Trong một cuộc điện đàm với H.R. Haldeman, người mà sau này trở thành Chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc, ông Nixon đã chỉ đạo để cho một người trung gian thân hữu tiếp tục “thuyết phục” những nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa không đồng ý với một hiệp định hòa bình trước cuộc bầu cử, theo những gì mà ông Haldeman viết xuống.

Tác giả John Farrell phát hiện những ghi chú này tại Thư viện Tổng thống Nixon khi ông tìm tư liệu cho cuốn sách viết về cuộc đời của ông Nixon có nhan đề “Richard Nixon: The Life” sẽ được ấn hành vào tháng 3.

Trong bài bình luận đăng trên mục Sunday Review của báo The New York Times hôm 31 tháng 12 vừa qua, ông Farrell gọi điều mà ông phát hiện trong những ghi chú này là “hành vi phạm tội mà, với những mạng người gặp nguy và cả một thập niên tàn sát ở Đông Nam Á, có thể đồi bại hơn bất kỳ điều gì mà Nixon đã làm trong vụ Watergate.”

Nỗ lực bí mật của ban vận động tranh cử cho ông Nixon nhằm phá hoại sáng kiến hòa bình của Tổng thống Lyndon Johnson lâu nay vẫn gây nên nhiều tranh cãi và là đề tài nghiên cứu của giới sử gia. Trong những năm qua đã có kha khá bằng chứng cho thấy sự dính líu của ban vận động cho ông Nixon, nhưng những ghi chú của ông Haldeman dường như xác nhận những nghi ngờ từ lâu rằng ông Nixon đã can dự trực tiếp, dù sau này ông luôn một mực phủ nhận.

Là ứng cử viên Tổng thống của Đảng Cộng hòa vào năm 1968, ông Nixon tin chắc rằng Tổng thống Johnson, người theo Đảng Dân chủ và đã quyết định không tái tranh cử, khi đó đang cố tình tìm cách phá hoại chiến dịch của ông bằng một nỗ lực hòa bình có động cơ chính trị chủ yếu là để tiếp sức cho ứng cử viên Dân chủ và cũng chính là Phó Tổng thống của ông, Hubert Humphrey.

Trong suốt chiến dịch tranh cử, đội ngũ của ông Nixon duy trì một kênh liên lạc bí mật với Việt Nam Cộng hòa thông qua bà Anna Chennault, góa phụ của vị tướng lừng danh Claire Lee Chennault, lãnh đạo biệt đội Phi Hổ ở Trung Quốc thời Thế chiến thứ hai. Bà Chennault là người gây quỹ có tiếng cho Đảng Cộng hòa và là một thành viên của nhóm vận động hành lang Trung Hoa có lập trường ủng hộ Quốc Dân Đảng, với những mối quan hệ khắp Châu Á.

“Cứ để Anna Chennault thuyết phục SVN [Nam Việt Nam],” ông Haldeman ghi xuống theo chỉ đạo của ông Nixon vào ngày 22 tháng 10 năm 1968. “Có cách nào khác phá hoại nó không? Bất cứ điều gì mà RN [Richard Nixon] có thể làm.”

Khi Tổng thống Johnson phát hiện sự can dự của ông Nixon, ông ra lệnh cho FBI theo dõi hành tung của bà Chennault. Bà ấy “liên lạc với Đại sứ Việt Nam Bùi Diễm,” một bản báo cáo từ hoạt động do thám cho biết, “và cho ông ấy biết bà ấy đã nhận được thông điệp từ sếp của bà ấy… để đích thân trao cho ông đại sứ. Bà ấy nói thông điệp là… ‘Hãy chờ đợi. Chúng tôi sẽ thắng. …Xin nói với sếp của ông [Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu] là cứ chờ đợi.’”

VOA liên lạc với cựu Đại sứ Bùi Diễm nhưng ông nói không muốn khơi lại “chuyện cũ” mà ông cho biết đã được trình bày rất rõ ràng và chân thực trong cuốn hồi ký “Gọng Kìm Lịch Sử” xuất bản hồi năm 2000.

Ông viết ông đã “chết sững” khi hay tin báo giới Mỹ khi đó xôn xao về những thông tin trong những bức điện báo ngoại giao của ông gửi về Việt Nam bị rò rỉ mà ông nói bị “hiểu nhầm” là có sự thỏa thuận giữa ông Nixon và Việt Nam Cộng hòa cho một kế hoạch mà trong đó Việt Nam Cộng hòa sẽ trì hoãn các cuộc đàm phán ở Paris nhằm làm giảm uy tín của ông Humphrey và dồn số phiếu bầu cử về phía ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa, đổi lại, khi đắc cử Tổng thống Nixon sẽ ủng hộ Việt Nam Cộng hòa mạnh mẽ hơn.

Theo tường thuật của ông Bùi Diễm trong cuốn hồi ký, Tổng thống Thiệu “có rất nhiều lý do để chống đối những cuộc đàm phán mở rộng mà chẳng cần phải bàn luận với bất kỳ ai,” nhất là sau khi ông nhận được báo cáo từ đại sứ Phạm Đăng Lâm, trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Cộng hòa tại Hòa đàm Paris, “về những diễn biến không thực sự đi sát với những điều Hoa Kỳ đã đề ra khi trước.”

William Bundy, một cố vấn đối ngoại của Tổng thống Johnson và Kennedy và là người chỉ trích Nixon kịch liệt, từng kết luận rằng cơ may đạt được một hiệp định hòa bình là rất mong manh. Do đó không thể nào xác định một cách chắc chắn rằng liệu một hiệp định hòa bình có thể đã đạt được hay không nếu không có sự can thiệp của ông Nixon.

Nhưng những ghi chú của ông Haldeman có lẽ phần nào làm sáng tỏ “bí ẩn” khiến vị cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa băn khoăn về vai trò của bà Chennault trong vụ việc này.

“Mặc dù đã biết rằng mình không hề có âm mưu gì mờ ám, tôi vẫn cảm thấy dường như có điều gì bí ẩn, nhất là vai trò của bà Anna Chennault,” ông viết trong cuốn hồi ký. “Tôi có cảm tưởng rằng bà đã tự mình có sáng kiến thúc đẩy phía Việt Nam Cộng hòa và ông Nixon vào con đường cứng rắn đối với cộng sản để thủ lợi cho Đảng Cộng Hòa.”

“[N]hững gì được gọi là mưu toan của bà Anna Chennault sẽ chỉ mãi mãi là bí ẩn của lịch sử,” ông Bùi Diễm viết 17 năm trước.

Sau khi li nhiệm, ông Nixon phủ nhận việc ông có biết về những thông điệp của bà Chennault gửi cho Việt Nam Cộng hòa trong những ngày cuối cùng của chiến dịch vận động tranh cử Tổng thống năm 1968, mặc dù có bằng chứng cho thấy bà đã liên lạc với ông John Mitchell, người quản lý chiến dịch tranh cử của ông Nixon và sau này trở thành Bộ trưởng Tư pháp.

Tác giả John Farrell cho biết những ghi chú của ông Haldeman thực ra đã được Thư viện Tổng thống Nixon công bố vào năm 2007, nhưng ông chỉ nhận thấy nội dung của những ghi chú này khi ông nghiên cứu tư liệu cho cuốn sách sắp ra mắt của ông.

Báo The New York Times dẫn lời ông Timothy Naftali, cựu giám đốc Thư viện Nixon, nói rằng những ghi chú này loại bỏ những nghi ngờ về sự dính líu của vị cựu Tổng thống.

“Hành động mờ ám này của ban vận động tranh cử cho Nixon tạo tiền đề cho những hành vi gian dối trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông ta,” ông Naftali nói.

Ông Richard Nixon là Tổng thống thứ 37 của Mỹ, bắt đầu nhiệm kỳ từ năm 1969 và kết thúc vào năm 1974 sau khi vụ bê bối nghe lén Watergate bị phanh phui. Ông là Tổng thống duy nhất từ chức trong lịch sử Hoa Kỳ.

VOA – 3/1/2017

Hải Đội 4 Duyên Phòng

Phùng Học Thông

Lời nói đầu.

Tập tài liệu về Hải Đội 4 Duyên Phòng này được hình thành là do rất nhiều người đã đóng góp, họ là những  cựu Thuyền Trưởng, Thuyền Phó, Đoàn Viên Thủy Thủ đoàn, Nhân viên và Hạ Sĩ Quan phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Hải Đội. Và hơn nửa, một vài Sĩ Quan cấp chỉ huy và một số Sĩ Quan bạn phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải.

Như lời giới thiệu của Báo Lướt Sóng số 61 phát hành nhân ngày Húy Nhật Đức Trần Hưng Đạo năm 2007 đã đăng trích đoạn tài liệu, mục đìch tiếp tay kêu gọi các cựu Hải Quân thuộc HĐ4DP cũng như một số bạn bè thuộc HĐ5 Duyên Phòng và các Hải Đội khác nếu biết tin tức hoặc chi tiết thì xin đóng góp hầu hoàn thành tài liệu này.Cám ơn báo Lướt Sóng.

Tài liệu được bắt đầu soạn thảo từ tháng 8 năm 2006 theo những gì còn nhớ được qua trải nghiệm của từng cá nhân, kiểm chứng ngày tháng và năm bằng tài liệu Hoa Kỳ là báo cáo của NAVFORV háng tháng từ năm 1967 đến năm 1971.Các số hiệu của PCF bàn giao và ngày bàn giao có được do tài liệu của website swift boats của Hoa Kỳ.

Với lời cám ơn đến các bạn HQ các Khóa. Các anh Nguyễn An Cường, Nguyễn Minh Tú, Vương Thế Tuấn, Lương Văn Phước, Đặng Trọng Đính đã khuyến khích tôi ngay từ ngày đầu, các anh  Thuyền trưởng đầu tiên của 4 PCF với các tên của các HSQ và Đoàn viên trên tàu mình, các anh Nguyễn Đình Lâm, Đỗ Sĩ Thạc, Ninh Duy Định. Anh Lý Thành Thông, Trần Quốc Cường đã cho tin về các anh Thuyền Trưởng của 5 WPB, anh Nguyễn Đình Sài với chi tiết về HĐ5 DP,  anh là người biết nhiều về Thuyền Trưởng John Kerry, Trung úy Kerry sau này là TNS Mỹ, có thời ra tranh cử với Ông Bush, anh Bùi Đức Ly và anh Trần Ken đã giới thiệu tôi với rất nhiều Thuyền Trưởng khác để liên lạc, anh Phạm Hồng Ân, anh Vũ Đức Cương đã giúp rất nhiều chi tiết quí giá nhất là đã viết và kể lại chi tiết PCF 3806 đã bị Việt Cộng cướp tại ngoài khơi vùng Hòn Đất, giêt chết [chặt đầu) Thuyền Trưởng, Thuyền Phó, bắt đi Thũy Thủ đoàn vào những ngày tháng đầu năm 1975. Anh Cương còn nói là tôi có thể viết thành một cuốn tiểu thuyết với những tài liệu và tin này! Niên trưởng Mai Mộng Liễn, niên trưởng Lê Văn Quế và anh Nguyễn Ngọc Ẩn để biết thêm về tin tức này.Các anh Trương Đình Quí, Trương Thanh Việt, Dương Ngọc Lợi cho tên các anh Thuyền Trưởng và các anh xuất thân từ trường Võ Bị Đà Lạt, anh Huỳnh Văn Phườc, Tạ Cự Nguyên với một số hình ảnh của PCF và nhân viên trên PCF, anh Châu Đình Lợi, một ngừơi đã giúp rất nhiều về chi tiết và tình trạng của Hải Đội cũng như trí nhớ của anh về quân số của đơn vị ở một thời điểm nào, anh Nguyễn Văn Tây người Việt đầu tiên mà tôi liên lạc sau khi vào website PCF của Hoa Kỳ. Anh Trương Văn Quang đã giúp rất nhiều về hình ảnh cũng như tài liệu của Hải Quân Hoa Kỳ trong giai đoạn 1966-1975.

Một số rất nhiều tên mà tôi không kể ra đây để cám ơn, xin các anh tha lỗi. Và khi nhìn vào danh sách Thủy Thủ Đoàn với tên hàng trăm người là SQ, là HSQ, là Đoàn viên xin các anh coi như đây là một lời cám ơn vì các anh  là những người đã làm nên Hải Đội 4 Duyên Phòng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

Cám ơn những phương tiện kỹ thuật hiện đại đã giúp chúng ta liên lạc dễ dàng bằng điện thư vì tất cả chúng ta đều ở từ những nơi xa xôi trên đất Mỹ, đất Canada và đất Úc.

Người ghi chép và biên soạn.

Phùng Học Thông

Tháng 12 năm 2007.

Hải Đội 4 Duyên Phòng  (1967-1975)

Hải Đội 4 Duyên Phòng [1] được chánh thức thành lập sau khi nhận lãnh 4 PCF mark II tại An Thới vào ngày  19 tháng 7 năm 1968. Đây là 4 PCF đầu tiên được chuyển giao cho HQVN, các chiến đỉnh nầy được đưa đến Việt Nam trên một LSD Hoa Kỳ, và tấtcả trang bị và vũ khí cá nhân đều được chứa trong thùng .

Trở lại thời gian trước khi nhận lãnh các PCF nầy thì trên thực tế, Hải Đội 4 đã được

khai sanh vào khoảng giữa năm 1967 với một số nhân viên và Sĩ Quan tình nguyện từ

Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải. (Thời gian đó còn gọi là Bộ Chỉ Huy Vùng 4 Duyên Hải) họ đã được gởi thưc tập trên các PCF và WPB của Hải Quân Hoa Kỳ thuộc Coastal Squadron 1 và PCF Division 101 tại An Thới.

Vào cuối năm 1967 và đầu năm 1968 thì một Bộ Chỉ Huy cho Hải Đội 4 được xây cất. Danh xưng của Hải Đội 4 lúc nầy là Hải Đội 4 Duyên Tốc Đĩnh.

Bo chi huy HD4DP. Photo by PHTjpgBộ Chỉ Huy của Hải Đội 4  năm 1968  trước khi nhận lãnh bàn giao các PCF.                         

Chương trình huấn luyện  Thủy thủ đoàn do  Vùng 4 Duyên Hải và PCF Division 101 đảm nhận .Sĩ Quan điều hợp huấn luyện Việt Nam lúc đó là HQ Tr/úy Trầm Hữu Tạo K14, thuộc phòng Huấn Luyện của Vùng 4 Duyên Hải. Các Sĩ Quan và Đoàn Viên Việt Nam được gởi trên các PCF Hoa Kỳ để được huấn luyện khi các chiến đỉnh nầy đi tuần ở những vùng Market Time 9D đến 9L. Thời gian huấn luyện của những Thủy thủ đoàn đầu tiên nầy đã được thưc hiện từ năm 1967 dưới thời của  HQ Đại Tá Phùng Nhật Tân K2, đến lúc  nhận lãnh 4 chiến đĩnh đầu tiên là thời gian của TL/V4, HQ Đại Tá Đặng Cao Thăng K1 Brest.  Quân số HĐ  lúc đó có 71 người, gồm SQ và Đoàn Viên.  48 người được trang bị cho 8 Thủy thủ đoàn của 4 PCF (Mỗi PCF có hai Thủy Thủ đoàn) số còn lại là những nhân viên ứng trực, nhân viên sửa chữa và người chờ bổ sung cho các Thủy thủ đoàn tương lai ..

Buổi lể bàn giao 4 PCF  từ 3800  đến 3803 ngày 19 tháng 7 năm 1968  tại cầu tàu An Thới.Phú Quốc.(tài liệu nguồn All Hands Nov.1968)

Sau khi nhận bàn giao,  4 PCF mới nầy được lấy số từ HQ 3800 đến HQ 3803, các SQ Thuyền Trưởng cho Thủy thủ đoàn (1) theo thứ tự  số tàu là  HQTr/úy Huỳnh Công Phuơng, HQTr/úy Văn Trung Thu, HQTr/úy Phùng Học Thông và HQTr/úy Nguyễn Văn Đông, tất cả thuộc K14, và các SQ Thuyền Trưởng của Thủy thủ đoàn (2) là HQTr/úy Lê Khánh Dư, HQTr/úy Lương Văn Phước,HQTr/úy Đặng Trọng Đính và HQTr/úy Phạm Đình Phùng, tất cả thuộc K15.[2] 

Vùng tuần tiểu trách nhiệm là 2 vùng Market Time.Thủy thủ đoàn đi tuần 24 tiếng và nghỉ 48 tiếng, giống như tiêu chuẩn của PCF Division 101

Khoảng hơn tháng sau,cuối tháng 8 năm 1968 thì Hải Đội nhận lảnh thêm 2  PCF mark II tai HQCX Saigon. Hai PCF nầy được lái về An Thới có số HQ 3804 , và    HQ 3805. Thuyền Trưởng của hai PCF nầy là các anh HQTr/úy Lê Văn Quí K14,  HQTr/úy Trương Minh Hoàng K14, HQTr/úy Vương Thế Tuấn K15, và HQ Th/úy DV Lê Văn Ngọ. Th/úy DV Nguyễn Văn Tường là Thuyền phó trên 3805 sau đó.

Trong giai đoạn đầu, Hải Đội 4 chưa có người chánh thức đảm nhiệm chức vụ Hải Đội Trưởng, Tham Mưu Trưởng Vùng 4 là HQ Trung Tá Hà Văn Ngạc kiêm chức vụ  nầy, từ năm 1968 và danh xưng Hải Đội là Hải Đội 4 Duyên Phòng từ năm 1969. Chỉ Huy phó HĐ là HQĐ/úy Nguyễn Đình Lâm K12.

Tháng 10 năm 1968, Hải Đội nhận lãnh thêm 2 PCF mark II tại Đà Nẳng và lái về Phú Quốc đó là hai chiến đỉnh HQ3806 và HQ3807 do HQTr/úy Nguyễn Văn

Mạnh K13 và HQĐ/úy Lê Như Bái K12 làm Thuyền trưởng. Hướng dẫn nhận lãnh

là HQ Đ/úy Nguyễn Đình Lâm K12.

Cuối năm 1968, Hải Đội nhận lãnh thêm 4 PCF mark II tại Đà Nẵng, HQ3808, 3809

3810 và 3811. HQTr/tá Hà Văn Ngạc đã hướng dẫn nhận lãnh 4 PCF này. Thuyền trưởng là Th/úy DV Nguyễn Văn Tường, HQ3808 soái đĩnh vì có Tr/tá Ngạc hiện

diện, HQTr/úy Ninh Duy Định K14, HQ3809, HQTr/úy Trương Công Hải, K14 HQ3810 và HQTr/úy Đỗ Sĩ Thạc K14, HQ 3811.

Huy hieu HD4DP. TVQ Collection.

Huy hiệu HĐ4DP (hình sưu tầm của anh Trương Văn Quang)

Tháng 4 năm 1969,Hải Đội nhận lãnh 2 PCF mark I tại Saigon là các PCF có số HQ3812 và HQ3813.HQTr/úy Vương Thế Tuấn,người hướng dẫn, Thuyền trưởng HQ3812., và HQTr/úy Đặng Trọng Đính, Thuyền trưởng HQ3813.                      

Tháng 5 năm 1969, một số 88 người gồm các Đoàn viên và Sĩ Quan được Bộ Tư Lệnh Hải Quân gởi đến Hải Đội để được huấn luyện và sau đó được đưa đi Cát lở, Cam Ranh, Qui Nhơn, Chu Lai và Đà Nẳng theo chương trình START (Swift Training And Rapid Turn Over on the job training) cho các đợt chuyển giao 49 PCF vào  năm 1970.

Thời gian nầy,quân số của Hải Đội 4 được bổ sung một cách nhanh chóng, chuẩn bị nhận lãnh thêm các PCF mới. Riêng về Sĩ Quan, có khoảng trên 50 SQ, đa số thuộc K17 được đưa đến Hải Đội  để được huấn luyện và các SQ K14 một số thuyên chuyển đi  đơn vị mới và một số cùng với Sĩ Quan Khóa 15 được thuyên chuyển đến Vùng 3 Duyên Hải chờ tiếp nhận các Tuần Duyên Đỉnh WPB.

Chỉ Huy Trưởng Hải Đội 4 Duyên Phòng lúc này là HQ Tr/tá Trịnh Kim Thanh K5  và  tiếp đến là HQ Th/tá Nguyễn Quang Tộ thuộc K6. Chỉ Huy Phó HĐ, HQ Đại úy Nguyễn Đình Lâm K12 , kế tiếp là HQ Đ/úy Nguyễn Minh Tú  K14 (1969-1970) 

Tháng 4 năm 1970, để chuẩn bị cho cuộc Hành Quân sang Kampuchea , 5 chiếc WPB

thuộc Hải Đội 3 Duyên Phòng được gởi đến An Thới là HQ720, HQ722, HQ723, HQ724 và HQ725  do các SQ thứ tự sau đây là Thuyền Trưởng: HQ Tr/úy Nguyễn Minh Hải K16, HQ Tr/úy Lý Thành Thông K16, HQ Tr/úy Nguyễn Văn Thịnh K15, HQ Tr/úy Liêu Chơn K15 và HQ Tr/úy Trần Quốc Cường K15

Riêng về PCF, thì Hải Đội 4 lúc đó có trên 100 SQ  là Thuyền Trưởng và Thuyền Phó các PCF. Con số nầy được kể  luôn cho  các SQ đang được huấn luyện chờ lãnh các PCF đợt kế tiếp.

Ngày 10 tháng 6 năm 1970, tại An Thới, HQ Hoa Kỳ  chuyển giao các PCF 17, PCF 37, PCF 52, PCF 64, PCF 71 và PCF 73 cho Hải Đội 4, đó là các PCF lần lượt có số, 3815, 3816, 3817, 3818, 3819 và 3820. [4]

Tháng 10 năm 1971, trận bão Hester thổi vào Duyên Hải Việt Nam, một số WPB của Hải Độí 1 Duyên Phòng bị thiệt hại trong trận bão. Các WPB trực thuộc Hải Đội 4 đã được điều động đến Hải Độí 1, từ đó không còn sự hiện diện của các WPB  Việt Nam tại Phú Quốc. Các WPB của HQHK thì thường xuyên họat động tại vùng mũi Cà  Mau và Năm Căn trong cuộc hành quân Sea Float va Solid Anchor.

WPB va PCF của Hải Độí 1 Duyên Phòng bị thiệt hại trong trận bão Hester tháng 10 năm 1971 (photo: 40 years today – A Vietnam War Timeline)

PCF và sự có mặt của loại chiến đĩnh nầy tại chiến trường Việt Nam.

PCF chử viết tắt của Patrol Craft Fast, một loại chiến đĩnh được đóng và trang bị cho

Hải Quân Hoa Kỳ sử dụng tại chiến trường Việt Nam vào năm 1965.

PCF hay tiếng Việt gọi Duyên Tốc Đĩnh được HQHK đặt đóng tại Xưởng Đóng tàu Seawart Seacraft, thành phố Berwick.Tiểu bang Louisiana.

Bốn PCF đầu tiên được hoàn tất tháng 9 năm 1965.PCF 1 và PCF 2 được đưa đến Coronado, Tiểu Bang California,để sử dụng huấn luyện. PCF 3 và PCF 4 được đưa đến Căn Cứ HQ ở Subic vào những ngày giửa tháng 9 năm 1965 và chờ các Thủy Thủ đoàn,và sau đó được đưa đến An Thới vào ngày 28 tháng 10 năm 1965.

Về đặc tính thì loại chiến đĩnh nầy được coi như thích ứng cho việc tuần tiểu vùng ven biển với độ sâu thích hợp cho ghe tàu nhỏ thường xuyên hoạt đông và hiện diện ở Duyên Hải Việt Nam. Với tốc độ nhanh có thể truy chận và có mặt tại vùng chỉ định trong một thời gian ngắn.Tầm hoạt động từ 200 đến 780 hải lý tùy theo vận tốc.

Duyên Tốc Đĩnh Mark I với những đặc tính sau:

                                  Dài : 50 foot

                                  Trọng tấn : 23 tấn

                                  Vận tốc : 26 gút

                                  Máy chánh : 2 máy 12V71 General Motors

                                  Máy điện : Onan

                                  Nhiên liệu : 3 hầm dầu chứa 828 gallons

                                  Nước ngọt : 60 gallons

                                  Thủy thủ đoàn : 6-7 người.

    Trang bị trên chiến đĩnh:

                                 Radar Decca tầm xa 24 hải lý.

                                 Máy đo chiều sâu : 240 foot tối đa.

                                 Truyền tin :Giai tần đơn AN/VRC58,VRC/46,AN/PRC25…

                                 Vũ Khí : – Đại Liên 50 đôi,tác xạ điện,vị trí trên pháo tháp.

                                 – Súng cối 81 ly trực xạ và đai liên 50 ghép chung .          

                                 – Vũ khí cá nhân M16, phóng lựu M79…

                                 – Ống dòm hồng ngọai tuyến.

Hình PCF mark 

I. Trích từ nguồn ảnh PCF-website  pcf45.com

Duyên Tốc Đĩnh Mark I  của Hải Đội 4 Duyên Phòng gồm có : các PCF có số 3812, 3813 ,  3814, 3815, 3816, 3817, 3818, 3819, 3820, 3821,3822, 3902, 3920, 3926.

Duyên Tốc Đĩnh Mark II của Hải đội 4 Duyên Phòng  : các PCF có số: 3800, 3801,3802, 3803, 3804, 3805, 3806, 3807, 3808, 3809, 3810, 3811.

Các Duyên Tốc Đĩnh Mark I, nhận lãnh lại từ PCF của Hoa Kỳ hoạt động từ năm 1966.

Các Duyên Tốc Đĩnh Mark II, được bàn giao từ các PCF mới đóng vào những năm 1968. Về hình dáng thì chiến đĩnh mark II,giống như mark I, nhưng  chiều dài của PCF mark II là 51 foot.,phần phía trước mủi được nâng cao và phòng lái được dời về phía sau khoảng  một  thước.                      Duyen toc dinh PCF HQ.3802PCF Mark II, HQ 3802 trên sông Giang Thành. Hình chụp năm 1969 (photo: Phung Hoc Thong)

Các PCF Hoa Kỳ Mark I, có số từ PCF 1 đến PCF 104, hoạt động trên vùng biển và sông của Việt Nam,trực thuộc các phân đội PCF: 11, 12, 13,Cam Ranh Qui Nhơn, Chu Lai.đã được lần lượt chuyển giao cho Hải Quân Việt Nam ở các Hải Đội 1, Hải Đội 2, Hải Đội 3, Hải Đội 4,và Hải Đội 5 Duyên Phòng[5] bắt đầu từ năm 1968 đến 1970

Trong số 30 PCF Mark II được đóng vào những năm 1968-1969 ,sau khi bàn giao cho HQVN, HQHK chỉ sử dụng tại Việt Nam  ba chiếc là các PCF 137, PCF 138 tại Cát lở và PCF 139 tại Đà Nẳng. Một số khác được ghi nhận là chuyển giao cho Phi Luật Tân, Thái Lan và một số nước khác.

Riêng về các PCF Mark III [6] được đóng vào các năm 1969-1972. Trong số 33 chiếc, chỉ có 5 chiếc được HQHK sử dụng tại Việt Nam là các PCF 691, 692, 693, 694 và 695.

Các PCF nầy đã được chuyển giao cho HQVN tại Vũng Tàu ngày  1 tháng 12 năm 1970 và lấy số theo thứ tự HQ 3933, 3934, 3935, 3936 và 3937.

Ngoài ra tại Việt Nam và Phi Luật Tân cũng đã đóng một PCF bằng Ferro Cement ở mỗi nơi với giá chi phí rẽ hơn và dỉ nhiên kém hiệu quả.

 WPB – loại Tuần Duyên Đĩnh mới tại vùng Duyên Hải Việt Nam.

Sau sự việc tàu tiếp tế vũ khí cho Việt Cộng  bị phát giác và  đánh chìm tại Vũng Rô ngày 16 tháng 2 năm 1965. Hải Quân Hoa Kỳ đã nhờ lực lượng Duyên Phòng Coast Guard thuộc Bộ Tài Chánh Hoa Kỳ giúp gởi các tàu thuộc Duyên Phòng đến giúp Hải Quân tuần tiểu trên Duyên Hải Việt Nam,đặc biệt những tàu có thể hải hành vùng gần bờ dùng trong mục đích khám xét và truy chận.

Bộ Tư lệnh Coast Guard đả thành lập  Hải Đội 1 Coast Guard (Coast Guard Squadron One) ngày 29 tháng 4 năm 1965 và cho điều động 17 Tuần Duyên Đĩnh WPB gia nhập lực lượng nầy. 47 Sĩ Quan và 198 Đoàn Viên được chuyển đến Coronado để được huấn luyện. Ngày 12 tháng 6 năm 1965, Hải đội 1 Coast Guard được đặt dưới sự chỉ huy của lực lượng Hải Quân, Đệ Thất Hạm Đội  tại Thái Bình Dương và được gởi đến huấn luyện tại căn cứ Hải Quân Subic.                     .

Ngày 16 tháng 7, Phân Đội 12 với 8 WPB khởi hành đi Đà Nẳng  và ngày 24 tháng 7 thì Phân Đội 11 với 9 WPB khởi hành đi An Thới. Khi đến Việt Nam 17 WPB nầy đặt trực thuộc Task Force 71 vài ngày cho đến ngày 30 tháng 7 năm 1965 thì trực thuộc TF 115 khi lưc lượng nầy được thành lập để trực tiếp chỉ huy Hành Quân Market Time.

WPB Chử tắt của W Patrol Boat – Large, được gọi là Tuần Duyên Đĩnh trong Hải Quân Việt Nam.  Các WPB được đưa đến Việt Nam thuộc Class “A “và  “C”, có tên Hoa Kỳ  với chử   POINT  đứng đầu, được đóng tại Coast Guard Yard. Curtis Bay. Maryland ,vào những năm 1960 và 1961 [7].

Ở  lực lượng Coast Guard , những tàu và chiến hạm đều được gọi là Cutter, trưóc tên loại tàu có chữ W, ví dụ sau nầy các chiến hạm lớn trên 2000 tấn có tên WHEC (W  High Endurance Cutter) đến Việt Nam và sau đó được chuyển giao cho HQVN, có tên Tuần Dương Hạm.

Tuần Duyên Đĩnh –WPB Point Young  tại An Thới năm 1965. Tuần Duyên Đĩnh nầy được chuyển giao cho HQVN năm 1970 và có số HQ  714

                     Đặc tính của các  WPB  hoạt động tại Việt nam

                            Dài :   82 foot

                            Trọng tấn   : 67 tấn

                            Máy chánh :  2

                            Vận tốc  :   16.8 gút

                            Vũ khí  :  Súng Cối 81 bắn cò và Đại liên 50 ghép chung (sân trước)

                            Từ  2  đến  4  đại liên 50.

                            Vũ khí cá nhân M16 , M 79…

                            Thủy Thủ đoàn :  8 đến 10

Trong giai đoạn đầu của năm 1965, hai phân đội 11 và 12 hoạt động tại Vùng  phía Tây và Đông của Duyên hải Việt Nam, vùng Đông Nam còn trống, chưa có đơn vị nào đảm trách cho nên Bộ Hải Quân đã yêu cầu lực lượng Coast Guard gởi thêm 9 tàu WPB tăng cường. Phân đội 13 được thành lập với 9 WPB  vào ngày 12 tháng 12 năm 1965, khởi hành từ Subic đi Cát Lỡ ngày 18 tháng 2 năm 1966

Các WPB có khả năng chịu sóng cao và sau này thường được sử dụng tại vùng Duyên Hải Đà Nẳng, Nha Trang, Vũng Tàu .

Tại Vùng 1 Duyên Hải đã có những PCF bị chìm khi ra cửa biển vào những thời gian của mùa gió Đông Bắc, ít nhất 2 PCF đã chìm vì sóng gió quá lớn tại một cửa biển.

Các WPB tại Vũng Tàu đã vào sâu và hoạt động trên các sông Lòng Tàu, và các nhánh sông của sông Cửu Long , nơi có những Duyên Đoàn của Vùng 3 Duyên Hải trấn đóng.

WPB Hoa Kỳ trong những năm 1966, 1967, 1968 có rất nhiều công khi ngăn chận và phát hiện cũng như phá hủy những tàu Cộng Sãn VN chở vũ khí xâm nhập, nhất là trong năm 1966.

Cuối năm 1969, các WPB Hoa Kỳ đã  giảm đi những hoạt đông tại vùng Phú Quốc, An Thới, vì các vùng Market Time 9 đều do Vùng 4 Duyên Hải trách nhiệm, các WPB của Phân Đội 11 được điều động đảm nhiệm những công tác tuần tiễu hành quân tại vùng mủi Cà Mau và Duyên Hải Năm Căn.(Hành quân Sea Float và Solid Anchor).

Hải Đội 4 Duyên Phòng được biệt phái 5 WPB từ Hải Đội 3 Cát Lở vào giửa năm 1970. Các WPB nầy hoạt động tại An Thới từ 1970 cho đến năm 1971. Liền sau trận bảo Hester thổi vào Duyên Hải phía Bắc của Nam Việt Nam, các WPB Việt Nam hiện diện tại vùng Phú Quốc và Vịnh Thái Lan được đưa ra Vùng 1 Duyên Hải để tăng cường và thay thế những WPB bị thiệt hại vì trận bảo nầy.

Không như ở các PCF-Duyên Tốc Đĩnh, thủy thủ đoàn sống trên căn cứ bờ hoặc trên các Tạm trú hạm. Thủy thủ đoàn của WPB sống và sinh hoạt trên tàu của mình.Hệ thống máy điều hòa trên tàu đã giúp cho thủy thủ đoàn chịu đựng nổi thời tiết của vùng Đông Nam Á

Các WPB khi đến Việt Nam còn sơn màu trắng.Ngay ngày tuần tiễu đầu tiên gần vĩ tuyến 17, WPB Point Orient đã bị bắn bằng súng cối và súng liên thanh. Tàu màu trắng là mục tiêu dễ thấy trong đêm sáng trăng và ánh sáng hỏa châu. Ngày 21 tháng 9 năm 1965, CHT Lực lượng 115 liền chỉ thị cho các WPB phải sơn màu xám đậm. Point Orient chưa kịp thi hành, liền sau những chuyến tuần tiễu tiếp đó, chiến đĩnh bị tác xạ bởi chính đơn vị bạn, may mắn không có thiệt hại, WPB Point Orient lập tức được sơn màu xám đậm .

Hoạt động, tuần tiễu, hành quân của Duyên Tốc Đĩnh HĐ4DP.

1/ Bối cảnh lịch sử và tình hình xâm nhập vũ khí bằng đường biển của Việt Cộng.

Vào những năm đầu của thập niên 60,nhận thấy Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, với một lực lượng Hải Lực yếu kém vì thiếu phương tiện không thể đảm nhiệm một cách hoàn hảo việc canh phòng một bờ biển dài từ vĩ tuyến 17 đến biên giới Việt Nam ở vùng Vịnh Thái Lan, cho nên HQHK đã dùng một số chiến hạm của Đệ Thất Hạm đội tuần tiểu chận xét ghe thuyền trên Duyên Hải Việt Nam, mục đích ngăn chận sự xâm nhập vũ khí bằng đường biển và yểm trợ Hải Pháo.

Tháng 2 năm 1965, một tàu Cộng Sãn xâm nhập tiếp tế vũ khí bị phát hiện và bị đánh chìm tại Vũng Rô. Ta tịch thu được 100 tấn vũ khí, đạn dược được chế tạo tại Liên Sô và Trung Quốc. Đây là một bằng chứng là Cộng Sản đã dùng đường biển để tiếp tế và xâm nhập vào miền Nam.

Riêng về miền cực Nam và vùng Vịnh Thái Lan, những địa danh Cà Mau, U Minh, duyên hải tỉnh Rạch Giá, biên giới Việt Nam (Hà Tiên) và lãnh thổ Kampuchea, phía Bắc Đảo Phú Quốc là những nơi xâm nhập người và vũ khí của Việt Cộng vào Việt Nam Cộng Hòa, và cũng là những mật khu Việt Cộng.                  

Sau biến cố Vũng Rô, Hải Quân Hoa kỳ đề ra kế hoạch Hành Quân Market Time và phân ra những vùng tuần tiểu dọc theo Duyên Hải Việt Nam.

Lưc lượng Đặc Nhiệm 115 (CTF 115) được thành lập vào ngày 30 tháng 7 năm 1965 với 5 Trung Tâm Kiểm soát Duyên Hải (CSC) tại Đà Nẳng,Qui Nhơn,Nha Trang,

Vũng Tàu và An Thới để điều hành và giúp phối hợp các lực lượng tuần tiểu trên biển như các phân đội 11, 12 ,13 và 14 WPB và PCF.

Tại những vùng Duyên Hải, việc tuần tiễu từ bờ ra phía ngoài trong vòng 10 hải lý sẽ do những chiến đĩnh như PCF và WPB, ghe Duyên Đoàn đãm nhận. Phía ngoài là những Tuần Duyên Hạm (PGM), Hộ Tống Hạm (PCE,PCER), Khu Trục Hạm (DER), Tuần Dương Hạm (WHEC),tàu rà mìn  (MSO) của HQVN và HQHK trách nhiệm.

Các WPB và PCF báo cáo cho các MSO, Khu Truc Hạm,và những chiến hạm khác ở vòng ngoài cũng như về các Trung Tâm Kiểm soát Duyên Hải. Các chiến hạm vòng ngoài sẽ cung cấp tin tức cho WPB, PCF về các mục tiêu Radar, thông tin về hải hành.

Trong khi đó các PCF và WPB sẽ liên lạc cho tin đến các ghe Duyên Đoàn,yểm trợ Hải Pháo khi cần thiết.

Phân Đội 11 WPB của Hoa Kỳ đến vùng Phú Quốc liền bắt đầu công tác tuần tiễu cho Hành Quân Market Time. Ưu tiên cho kế hoạch hành quân nầy là:

                    1/ Kiểm soát sự di chuyễn của ghe tàu trong vùng trách nhiệm.

                    2/ Lục soát các ghe đang đánh cá trong vùng cấm.

                    3/ Kiểm soát các ghe đánh cá đang neo,chờ kéo lưới.

                    4/ Kiểm soát các ghe đánh cá đang kéo lưới.

Chỉ trong tháng đầu tiên của cuộc hành quân, phân đội 11 đã khám xét trên 1000 ghe xuồng đánh cá và di chuyển, hơn 4000 người được khám xét.Hiệu quả của cuộc hành quân được thấy rõ, vì các ghe xuồng đánh cá thường xâm nhập vào những vùng cấm,một khu vực mầu mở cá tôm và thường bị chi phối bởi sự kiểm soát của Việt Cộng vì gần bờ và dễ thu lợi.

Việt Cộng đã mỡ một chiến dịch tuyên truyền là Hải Quân Mỹ và VNCH đuổi các ghe dân đánh cá ra chổ khác để dành cho các tàu đánh cá của Mỹ vào đánh cá tôm tại các vùng nhiều cá tôm nầy..Hải Quân VNCH và Hải Quân Hoa Kỳ, các ghe Duyên Đoàn phải dùng biện pháp Tâm Lý Chiến để đáp ứng bằng cách giải thích, phát những tài liệu hướng dẫn, các lá cờ VNCH, thuốc men, quà tặng cho dân đánh cá trong những chuyến tuần tiễu, chận xét.

Chỉ trong vòng hai tháng 5 và 6 của năm 1966, đã có hai tàu sắt của Bắc Việt bị các WPB phân đội 11 và chiến hạm bắn chìm và bắt giữ tại các cửa Bồ Đề và Ba Động.

Vũ khí trên tàu xâm nhập tại Ba Động bị ta tịch thu từ 8o đến 100 tấn. Những vũ khí nầy là để tiếp tế cho quân Bắc Việt và Việt Cộng không những dùng cho chiến truờng tại Quân Khu 4 mà còn dùng tại chiến trường Quân Khu 2.

II /  Hoạt động tuần tiễu và hành quân của PCF Hải Đội 4 Duyên Phòng.

Từ giữa năm 1968, sau  khi nhận lãnh 4 PCF đầu tiên, Hãi Đội 4 được giao hai vùng tuần tiễu Market Time 9F và 9G,vùng Rạch Giá và vùng Quần Đảo Bà Lụa , ngoài khơi  Kiên Lương. Sau đó với số lượng  6 PCF, nhận thêm hai vùng 9I và 9J/K .PCF của Hoa Kỳ và PCF Hải Đội 4 sau đó luân phiên thay đổi trên các vùng từ 9D đến 9L.

Bản đồ phân vùng tuần tiễu Market Time

                                                

Năm 1968, một năm đã để lại nhiều ấn tượng trong chiến tranh Việt Nam dưới mắt của người Việt Nam và người Mỹ. Trận Tổng Tấn công của Cộng Sản đã là dấu hiệu cho thấy Việt Cộng đã có mặt tại miền Nam với một lưc lượng đáng kể và có chiều hướng mở ra những trận đánh lớn tại các vùng mà chúng đang giữ thế mật khu an toàn, và những vùng dễ xâm nhập do vị trí địa lý và chánh trị,vũ khí mà cộng sản sử dụng cho thấy là những cuộc xâm nhập vũ khí và tiếp tế của họ phần lớn qua các cửa ngõ biên giới và đường biển..Qua cuộc tấn công nầy, măc dù sự thiệt hại của Việt Cộng là lớn với những tổn thất nhân mạng và vũ khí đã  làm chậm trễ những kế hoạch tấn công  lớn bắng chiến tranh qui ước trong tương lai, nhưng xét ra thì nó  đã dẫn  đến sách  lược tương lai của người Mỹ là  nhanh chóng giao lại trách nhiệm cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa  đảm trách cuộc chiến Việt Nam, rút bớt quân đội tham chiến, xoa dịu những chống đối của dân chúng, giữ ghế  cho những cấp lãnh đạo chánh trị và những người được dân cử tại Quốc Hội.

Phó Đô Đốc Zumwalt được thuyên chuyển đến Việt Nam trong thời gian nầy [8], ông muốn Hải Quân Hoa Kỳ trở nên có hiệu quả hơn và kế đến là thực hiện kế hoạch bàn giao trách nhiệm cho Hải Quân Việt Nam qua những chương trình và kế hoạch huấn luyện,  chuyển giao, thúc đẩy nhanh chóng việc thực hiện Việt Nam hóa cuộc chiến thi hành  kế hoạch của hành pháp Hoa Kỳ. [9]

Nhìn lại việc xâm nhập và tiếp tế vũ khí của Cộng Sản, ông đã mau chóng thiết lập kế hoạch và thực hiện những cuộc hành quân mang tên SEALORDS. Ngoài mục tiêu chận đứng việc xâm nhập, hành quân nấy còn chú trọng nhiều về việc bình định những vùng mà trước kia là những vùng kiểm soát và  là mật khu của Việt Cộng.

Riêng tại Vùng 4 Duyên Hải, vùng biên giới Miên và Hà Tiên là nơi đang được Cộng Sãn dùng để xâm nhập cán bộ và vũ khí vào lãnh thổ  Việt Nam qua cửa ngõ hải cảng Kompong Som. Chánh quyền Sihanouk đang làm ngơ và thầm liên kết với Hà Nội dùng nơi nầy để tiếp nhận vũ khí của các nước Cộng Sãn tiếp tế cho các lực lượng võ trang của Bắc Việt tại miền Nam.

Các PCF Hoa Kỳ được lệnh vào sông Giang Thành và Kinh Vĩnh Tế, thời gian giữa tháng 10 năm 1968, đây là bước đầu tiên của cuộc hành  quân SEALORDS [10] (hành quân Trần Hưng Đạo) vào tháng 11 năm 1968.

Nguyên vào ngày 14 tháng 10 năm 1968, PCF 3 của Hoa Kỳ biệt phái Hà Tiên, được tin có một trạm thu thuế của Việt Cộng đang hoạt động trên sông Giang Thành, cách Hà Tiên một khoảng cách ngắn. Thuyền Trưởng PCF 3 là Trung úy Bernique đang nghỉ bến tại Hà Tiên bèn khởi hành đến nơi để ngăn chận. Nhân viên thu thuế Việt Cộng và 7 Du Kích đang làm việc đã ngạc nhiên khi thấy sự xuất hiện của PCF và chỉ nổ súng khi thấy lá cờ Mỹ, lúc đó chỉ cách nhau khoảng 30 m. PCF bắn trả, 3 VC  chết tại trận. Nhiều giấy tờ, tài liệu và vũ khí được tịch thu.Đây là vùng mà PCF không được phép hiện diện cho nên sự việc nầy đã bị Quốc Trưởng Cam-Bốt là Sihanouk phản đối, và cho là thường dân Miên bị Mỹ sát hại. Trung Úy Bernique được gởi về Saigon để điều tra và sau đó được Đô Đốc Zumwalt ban thưởng huy chuơng thay vì tờ giấy phạt.

Hai ngày sau, tức là ngày 16 tháng 10, Đô đốc Zumwalt đã chỉ thị PCF vào tuần tiễu sông Giang Thành cho đến đầu nối của Kinh Vĩnh Tế với sông nầy. Chỉ nội trong 5 ngày đầu tiên, Việt Cộng đã phản ứng bằng một cuộc chạm súng giửa PCF và một đơn vị VC khoảng 2 Đại Đội.Sang tháng 12 thì các PCF Hoa Kỳ thường xuyên chạm súng với VC trong vùng. Tổng kết trong tháng 12/1968 có:

                                 3 HQHK và 1 HQVN chết.

                                28 HQHK và 1 HQVN  bị thương    

                                17 PCF bị thiệt hại nhẹ. Việt Cộng có 119 chết, 47 bị thương.

Các Duyên Tốc Đĩnh của Hải Đội 4 bắt đầu vào sông vào tháng 12 năm 1968. PCF 3802 và PCF 3805 đã được biệt phái Hà Tiên dài hạn để tuần tiễu trên sông Giang Thành cùng các PCF Hoa Kỳ.

PCF HQ.3802    PCF 3802 đang tuần tiểu trên sông Giang Thành đầu năm 1969. Hình chụp từ PCF 3805 ,2 PCF vùa được sơn lại tại Hà Tiên để đón Tết Nguyên Đán. Các số tàu chưa được vẻ lại vì sợ phai mất khi chạy nhanh (photo: Phung Hoc Thong)

Ngày 11 tháng 5 năm 1969, lúc 18.30 giờ, hai PCF 3802 và 3805 trong khi tuần tiểu trên sông Giang Thành đã bị Việt Cộng phục kích bằng B40 và đại liên. Các chiến đĩnh nầy chống trả . PCF 3805 do  HQ Trung úy Trương Minh Hoàng làm thuyền trưởng đã trúng nhiều trái đạn B40, hệ thống truyền tin và Radar bất khiển dụng, một nhân viên bị thương, trên PCF 3802 một nhân viên bị thương nơi sân sau.Việt Cộng đã bắn trên 40 trái đạn B 40 trên một đọan sông dài 50 thước. [11]

Các PCF Hải Đội 4 và các PCF Hoa Kỳ thường xuyên bị phục kích trên đoạn đường từ ấp Trà Phô đến đoạn nối với Kinh Vĩnh Tế vào những lúc trời sập tối và khoảng giửa đêm.

Cũng vào thời gian cuối năm 1968, những cuộc tuần tiễu trong hành quân Search Turn đã đưa PCF Hoa Kỳ vào sông Cái Lớn, Rạch Giá. Các PCF Hải Đội 4 cũng đã tham dự. Ngày 27 tháng 12 năm 1968, 2 PCF Việt Nam đầu tiên vào sông Cái Lớn, hoạt động trên một đoạn đường dài 25 hải lý đến Chương Thiện.

Hải Đội 4 vì không đũ PCF tham dự hành quân Search Turn nên phần lớn các PCF Hoa Kỳ  trách nhiêm hành quân nầy cùng một số ghe Duyên Đoàn 43. Đôi khi những PCF Hải Đội đi tuần vùng 9D hoặc 9E, lúc mãn công tác và được thay thế thì được điều động vào sông Cái lớn hoạt động cho đến gần giửa đêm mới khởi hành về An Thới nghỉ bến.

Cuộc Hành quân vượt biên giới sang Cam Bốt năm 1970 tại vùng 4 Duyên Hải.

Dưới chiêu bài Trung Lập và thành viên của những nước phi liên kết,nước Cam Bốt, láng giềng của Việt Nam Cộng Hóa dưới sự lãnh đạo của Quốc Vương Sihanouk theo duổi một chánh sách thân Cộng Sãn,chống Hoa Kỳ. Ông đã để Bắc Việt dùng lãnh thổ Cam Bốt xâm nhập vũ khí và nơi trú đóng quân.

Tại Vùng Vịnh Thái Lan, vũ khí của khối Cộng Sãn công khai được đưa đến hải cảng Kompong Som và sau đó thì dùng biên giới Việt Nam Cộng Hòa và Cam Bốt để đưa sâu vào miền Nam.

Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Tướng Lon Nol đảo chánh Sihanouk bằng cách dùng áp lực bắt Quốc hội Cam Bốt bất tín nhiệm Sihanouk khi ông ta đang công du Pháp.

Lon Nol thành lập chánh phủ bang giao tốt với Hoa Kỳ.

Phùng Học Thông

Tháng12 năm 2007.


[1] Danh xưng Hải Đội 4 Duyên Phòng chỉ chánh thức được gọi khi Lực Lượng Duyên Phòng 213 được thành lập.Tuy nhiên Hải Đội 4 vì có thể coi như được thành lập trước các Hải Đội khác và ngay cả LLDP 213 cho nên tên gọi của đơn vị nầy  có sớm hơn.

[2] Mỗi PCF có hai Thủy Thủ đoàn, dể khi Thủy Thủ đoàn mãn công tác tuần tiễu về đến bến nghỉ ngơi thì Thủy Thủ đoàn thứ hai sẽ đi tuần trên PCF nầy sau khi được tiếp tế nhiên liệu, nước ngọt và đạn dược.

[3] Cùng lúc tại TTHL/Cam Ranh có 200 Thủy Thủ đoàn PCF được huấn luyện, các PCF Mỹ hàng tuần đến để đưa các thủy thủ đoàn đi tuần tiễu thực tập trên chiến đĩnh.

[4] Không ghi nhận được PCF 3814 được chuyển giao vào lúc nào. Người viết sẽ bổ túc khi đối chiếu và phối kiểm được tài liệu. Trong cuộc hành quân sang Kampuchea vào tháng 4 năm 1970, và cuộc di tản Kiều bào Việt Nam về Rạch Giá sau đó, chỉ có 12 PCF của Hải Đội 4 tham dự cùng 18 ghe Duyên Đoàn.Các WPB chỉ hiện diện ngoài khơi.

[5] PCF 1 và PCF 2 được sử dụng huấn luyện tại Coronado-California. Các PCF 7, PCF 8, PCF29, PCF 30 PCF 33, PCF 34 không thấy được sử dụng tại Việt Nam.Đó là những PCF được giữ lại để huấn luyện hoặc hoạt động tại Phi Luật Tân (theo Coastal Squadron One-Swift Boat Crew Directory ).

[6] PCF Mark III cùng có dặc tính như Mark I và Mark II, tuy rằng có rộng hơn hai loại trước một chút. Sau chiến tranh Việt Nam, HQHK đã cho đóng các loại PCF Mark IV và Mark V tại các xưởng đóng tàu Swiftships và Peterson với các PCF có chiều dài  63 foot và trọng tấn 33 tấn.

[7] J Moore.Captain. USN- Jane’s American Fighting Ships of the 20th century, xuất bản 1991.Nxb The Mallard Press (trang 306).

[8]W. C. McQuilkin, Lcdr,USN-Operation Sealords: A front in a frontless war, an analysis…1997..(trg18) Đô Đốc E. Zumwalt đến Việt Nam tháng 9 năm 1968. Khi ở Washington, ông có nhiều quan hệ với Paul Nitz là Bộ Trưởng Hải Quân cho nên biết được cuộc chiến không được công luận Mỹ hậu thuẩn. Ông nghĩ là  Đãng Cộng Hòa sẽ để ông có thời gian thực hiện kế hoạch trang bị và huấn luyện cho HQVN.

[9] HQHK có trên 38,000 người đang phục vụ tại các đơn vị  biển và sông trên chiến trường Việt Nam.

[10] Sealords tên của Chiến Dịch Hành Quân phối hợp giửa các đơm vị Việt Nam, Hoa Kỳ, với sự  yểm trợ của Không Quân. Chiến dịch Sealords có những cuộc hành quân sau:Hành quân ngăn chận Search Turn, vùng Rạch Giá –Long Xuyên, hành quân Trần Hưng Đạo vùng sông Giang Thanh và Kinh Vĩnh Tế, hành quân Giant Sling Shot vùng Mỏ Vẹt, hành quân Barrier Reef vùng Kinh Lagrange, Kinh Ong Lơn.

[11] Sáng sớm hôm sau ghe Duyên Đoàn 44 được PCF Hoa Kỳ yểm trợ đổ bộ khu vực chạm súng đã tìm thấy dấu vết của một cuộc chuyển quân qua sông từ hướng lãnh thổ Miên sang bờ của Việt Nam.

…………………………………………………………………………

Patrol Boat, River & Swift Boats (documentary)- Vietnam War

  • Patrol Craft Fast (pcf)

Home   Crews  Boat Tour  Boat Specs  81mm Mortar  Boat Background  An Thoi  Cam Ranh Bay  Qui Nhon  Chu Lai  Jungle Ball
Patrols  Hearts & Minds  Rules of Engagement  ROK’s and Shoals  Misfire  CosGrp 16  Sa Ky Victory  Sa Ky Aftermath  Duc Pho
SEALORDS  Cua Viet  Cua Dai  Ha Tien  Song Ong Doc Ambush  Silver Mace II  Sea Float  Sa Dec  Cambodia  VNN Turnover
Swift Boat Story  Swifts at War  Capsized  Gugliotta  Nguyen Charlie  Malta  PCF-104  VUMM  Epilogue  Links  email  GuestBook